Top 7 # Xem Nhiều Nhất Thuốc Cúm Mẫu Đơn Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Hanoisoundstuff.com

Bài Thuốc Trị Bệnh Từ Vị Thuốc Mẫu Đơn Bì

Trong y học cổ truyền Việt Nam, mẫu đơn bì được dùng làm thuốc giảm đau, thuốc trấn kinh, chữa nóng âm ỉ kéo dài, không có mồ hôi, sốt về chiều và đêm, hoặc đơn sưng, huyết ứ phát sốt, đau lưng, đau khớp, nhức đầu, đau kinh, kinh nguyệt không đều và bệnh phụ khoa sau khi đẻ. Ngày dùng 6 – 12g, sắc uống.

Những bài thuốc điều trị bệnh hiệu quả từ mẫu đơn bì

Chữa hen phế quản khi hết cơn hen: mẫu đơn bì 8g, hoài sơn 12g, thục địa 16g, sơn thù 8g, trạch tả 8g, phục linh 8g. Sắc uống ngày một thang, hoặc làm hoàn uống mỗi ngày 20g.

Chữa di tinh, suy nhược thần kinh, nhức đầu, mất ngủ: mẫu đơn bì 8g; sơn thù, hoài sơn mỗi vị 12g; thục địa 16g; trạch tả, phụ tử chế, phục linh, mỗi vị 8g; nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang chia 2 lần.

Chữa viêm khớp cấp: mẫu đơn bì 10g, tiền hồ 12g, huyền sâm 20g, hoàng cầm 12g, kỷ tử 12g, tri mẫu 12g, sinh địa 12g, thạch hộc 12g, mạch môn 12g, thăng ma 8g, xạ can 6g, đậu khấu 6g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa đau nhức do máu kém lưu thông, gây thiếu máu: mẫu đơn bì 100g; hoài sơn, hà thủ ô đỏ, ngọc trúc, đan sâm mỗi vị 200g; đương quy 1.000g; mạch môn, bạch linh, trạch tả mỗi vị 100g; chỉ thực, thanh bì, thù nhục mỗi vị 50g. Tán bột làm hoàn mỗi viên nặng 5g. Ngày uống 4 – 6g.

Chữa tăng huyết áp: mẫu đơn bì 8g, hoài sơn 12g, thục địa 16g, sơn thù 8g, phục linh 8g, đương quy 8g, trạch tả 8g, bạch thược 8g. Sắc uống ngày một thang chia 2 – 3 lần.

Chữa viêm gan siêu vi khuẩn cấp tính: mẫu đơn bì 16g, sinh địa 24g, nhân trần 40g, chi tử 16g, đan sâm 12g, hoàng liên 12g, huyền sâm 12g, thạch hộc 12g, thăng ma 12g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm loét dạ dày – tá tràng: mẫu đơn bì 8g, thanh bì 8g, bạch thược 12g, chi tử 8g, trạch tả 8g, bối mẫu 8g, hoàng liên 8g, ngô thù 4g, trần bì 6g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa đái tháo đường: mẫu đơn bì 12g, hoài sơn 20g, thục địa 20g, kỷ tử 12g, thạch hộc 12g, thiên hoa phấn 8g, sơn thù 8g, sa sâm 8g. Sắc uống ngày một thang, chia 2.

Chữa xơ gan cổ trướng: mẫu đơn bì 8g, thục địa 12g, rễ cỏ tranh 20g, hoài sơn 12g, địa cốt bì 12g, bạch truật 12g, sơn thù 8g, phục linh 8g, trạch tả 8g, đương quy 8g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm tắc động mạch: mẫu đơn bì 12g, đương quy 20g, cam thảo 20g, kim ngân hoa 16g, qua lâu nhân 16g, xích thược 16g, ngưu tất 16g, đào nhân 12g, huyền sâm 12g, đan sâm 12g, chỉ xác 8g, binh lang 8g. Sắc uống ngày một thang chia 2 lần.

Chữa rong huyết: mẫu đơn bì 12g; địa du, huyết dụ, a giao, sinh địa, bạch thược, mỗi vị 12g; hoa cây cỏ nến (bồ hoàng) sao đen 20g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa đau bụng kinh: mẫu đơn bì, hồng hoa, đào nhân, hương phụ, huyền hồ sách, mỗi vị 8g, mộc hương 6g, cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.

Chữa đơn độc sưng tấy, sưng vú, viêm tinh hoàn: mẫu đơn bì, huyết giác, đơn đỏ, cam thảo dây, chó đẻ răng cưa, đơn châu chấu, huyền sâm, ngưu tất, mạch môn, mộc thông, chi tử, hoàng đằng, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang chia 2 lần.

“Những bài thuốc trên không thay thế cho lời khuyên của các thầy thuốc, bác sĩ, vì vậy khi sức khỏe gặp vấn đề, bạn nên đến các cơ sở y tế, phòng khám đông y uy tín để được khám và điều trị”, giảng viên Y sĩ Y học cổ truyền – Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur chia sẻ.

Nguồn: chúng tôi

Thuốc Trị Cảm, Cúm: Chớ Dùng Tùy Tiện!, Phổ Biến Kiến Thức, Kiến Thức Y Tế Học Đường, Sinh Viên Đang Học

Các loại tân dược và đông dược (bào chế công nghiệp) chữa cảm, cúm được bán không cần đơn (thuốc OTC) ở các nhà thuốc và các điểm bán thuốc hợp pháp, phục vụ mọi lúc mọi nơi. Người bệnh hoặc người nhà bệnh nhân chỉ cần đến kể bệnh là được mua thuốc.

Các loại tân dược và đông dược (bào chế công nghiệp) chữa cảm, cúm được bán không cần đơn (thuốc OTC) ở các nhà thuốc và các điểm bán thuốc hợp pháp, phục vụ mọi lúc mọi nơi. Người bệnh hoặc người nhà bệnh nhân chỉ cần đến kể bệnh là được mua thuốc ngay. Nhiều khi được người bán gói sẵn các loại thuốc đã cắt rời… Điều này đang rất cần được cảnh báo bởi những tác hại của việc dùng thuốc tùy tiện.

Cảm, cúm thông thường

Cảm, cúm thông thường là bệnh bốn mùa của mọi người, thường xuất hiện nhiều nhất vào lúc giao mùa và đông xuân. Đông y gọi các chứng cảm, cúm là “thương phong”. Mùa rét là “phong hàn”. Mùa nóng là “phong nhiệt”. Mùa mát là “phong ôn”. Tùy trường hợp của từng người bệnh mà sau khi bắt mạch, thầy thuốc sử dụng các phương thang khác nhau có gia giảm để kê đơn, do đó khá an toàn cho người bệnh.

Nguyên nhân gây cảm, cúm theo Tây y là do các virut thông thường, gây bệnh đường hô hấp trên (mới nhiễm do tiếp xúc với người bệnh hoặc có sẵn trong cơ thể) gây ra khi sức đề kháng của cơ thể bị suy yếu (do nhiễm lạnh, nhiễm nóng, nhiễm độc… đột ngột) với biểu hiện: hắt hơi, sổ mũi, có khi chảy nước mũi ròng ròng; có khi ớn rét, sợ gió. Tối đa chỉ 1 tuần là khỏi. Trường hợp nặng có thể gây nhức đầu, sốt cao, người mệt mỏi (có khi đến 2 tuần mới khỏi),… dễ bị biến chứng đường hô hấp như viêm phổi, viêm phế quản… rất nguy hiểm cho người già, trẻ nhỏ, người yếu. Nếu cảm nặng sau 10 ngày không đỡ cần đi khám để điều trị kịp thời.

Các loại tân dược chữa cảm, cúm

Còn lời cảnh báo về tác dụng có hại như: paracetamol uống hại gan, phenylpropanolamin và pseudoephedrin có thể gây đột quỵ cho người tăng huyết áp… thường đăng trên báo hoặc nhà sản xuất thuốc có ghi trong tờ hướng dẫn dùng thuốc để trong hộp thuốc thì rất ít người đọc, có khi đọc rồi lại quên ngay.

Với hàng trăm tên biệt dược chữa cảm, cúm của nhiều nhà sản xuất thuốc, công thức dược chất trong mỗi biệt dược phần lớn là khác nhau. Riêng dạng thuốc có: thuốc uống, thuốc đặt hậu môn, thuốc tiêm, trong đó thuốc uống có nhiều dạng nhất như: thuốc viên (viên nén, viên nén bao phim, viên nang cứng, viên nang mềm, viên sủi). Thuốc nước có: sirô chai 30ml, 60ml; gói 5ml đóng hộp 30 gói và dung dịch uống…

Lời khuyên cho người dùng tân dược chữa cảm, cúm

Tránh hại gan: Không sốt cao (trên 38 o C), không đau nhức: không dùng paracetamol (acetaminophen). Khi dùng thuốc có chứa paracetamol không dùng một lúc nhiều dạng thuốc (đã tiêm không uống, đã uống không đặt thuốc hậu môn) để tránh quá liều.

Tránh đột quỵ: Người có bệnh tăng huyết áp, tim mạch nặng, cường giáp, đái tháo đường… không dùng các biệt dược chứa phenylpropanolamin (tuy đã bị cấm ở Việt Nam nhưng đề phòng trường hợp mang thuốc từ nước ngoài về), pseudoephedrin.

Không dùng chlorpheniramin maleat và các biệt dược có chứa chất này cho bệnh nhân: Đang lên cơn hen, tắc cổ bàng quang, phì đại tuyến tiền liệt, thiên đầu thống (glaucom góc hẹp), tắc môn vị, tá tràng, loét dạ dày, trẻ sơ sinh, người mang thai 3 tháng cuối, người đang nuôi con bú.

Trường hợp nhẹ như: hắt hơi, chảy nước mũi trong… chỉ cần uống thuốc kháng histamin H1 như: chlorpheniramin maleat hoặc loratadin hoặc cetirizin… là khỏi.

Thuốc giải biểu:

Viên khung chỉ (xuyên khung, bạch chỉ, hương phụ, cam thảo bắc) của nhiều cơ sở sản xuất khác nhau.

Cảm xuyên hương, cảm tế xuyên, comazin (gừng khô, quế và 4 dược chất như viên khung chỉ).

Đáng lưu ý là các thuốc có cùng công thức như cảm xuyên hương (ngoài các tên đã nêu trên có thể trên thị trường còn nhiều tên khác) chỉ dùng cho trường hợp cảm lạnh là tốt nhất. Không dùng cho người cảm nhiệt, cảm nắng (có thể làm cho bệnh nặng thêm). Cấm dùng cho phụ nữ có thai (đã có trường hợp gây thai chết lưu). Người đang nuôi con bú (giảm tiết sữa).

Các loại thuốc chứa tinh dầu như: cao Sao vàng, dầu Khuynh diệp, dầu Cửu long, dầu gió… thường dùng để “đánh gió” hoặc bôi vào thái dương, cổ họng, ngực, bụng hoặc cho vào cốc nước sôi để xông mũi. Cần lưu ý khi dùng cho trẻ em dưới 6 tuổi cấm dùng các loại có tinh dầu bạc hà vì tinh dầu bạc hà gây ức chế hô hấp, dẫn đến ngừng tim, ngừng thở.

Theo suckhoedoisong.vn

Bài 69: Tìm Hiểu Vị Thuốc Mẫu Đơn Bì

Tên gọi khác: Đan bì, Đơn bì, Đơn căn, Bạch lượng kim, Thử cô, Lộc cửu, Mộc thược dược, Mẫu đơn căn bì, Hoa tướng, Huyết quỷTên khoa học: Cortex Moutan hoặc Cortex Paeoniae Suffuticosae

Họ: Mao lương – RanunculaceaeMô tả dược liệu Mẫu đơn bì

Đặc điểm sinh thái

1. Mô tả chung

Mẫu đơn là cây thân gỗ sống lâu năm, cây trưởng thành có thể cao 1 – 2 mét. Rễ cây thường phát triển thành dạng củ và là phần được sử dụng để làm dược liệu.Lá mẫu đơn mọc cách, lá chia thành ba lá chét, mỗi lá chét lại chia thành 3 thùy. Mặt trên có màu xanh lục đậm hoặc nhạt tùy theo tuổi cây, mặt dưới có màu trắng nhạt thường được bao bọc bởi nhiều lông mịn.

Hoa Mẫu đơn thường rất to, phát triển ở phần đầu của cành, màu trắng hoặc tím đỏ. Hoa có 5 – 6 tràng hoặc nhiều hơn tùy theo giống hoa và kỹ thuật trồng trọt.

2. Bộ phận sử dụng dược liệu

Vỏ rễ màu nâu đen, thịt trắng, có nhiều bột, thường dày, rộng được ứng dụng để làm dược liệu. Đông y gọi là Mẫu đơn bì. Rễ dày, rộng, không dính lõi, có hương thơm dịu được xem là dược liệu tốt.Đơn bì khô có hình ống hoặc nửa ống. Cạnh bên thường có vết nứt dọc, dày khoảng 3 mm, hai mép cuộn vào trong, độ cuộn không xác định. Mặt ngoài Đơn bì thường có màu nâu tía hoặc màu tro. Có nhiều vân dọc hoặc sẹo ngang tròn dài, hơi lồi và có vết cắt của rễ tơ. Mặt trong thường có màu vàng tro hơi nhạt hoặc màu nâu. Có vân sọc hoặc nhiều chấm ánh bạc.Mẫu đơn bì có mùi thơm đặc biệt, vị hơi đắng, chát, khi nếm có thể gây tê đầu lưỡi. Chất dược liệu cứng, giòn dễ gãy, các bề mặt gãy tương đối phẳng và có bột. Lớp ngoài bột thường có màu nâu tro hoặc phấn hồng, lớp trong màu phấn trắng.

3. Phân bố

Cây Mẫu đơn có nguồn gốc từ Trung Quốc sau đó di thực vào Việt Nam và một số nước khác.Mẫu đơn là cây ưa sáng, không sống được trong bóng râm. Cây thường phát triển tốt trên sườn dốc, đất dày, thoát nước tốt hoặc trồng cây ở nơi đất cát pha. Trồng ở nơi đất nặng cây có rễ nhỏ, phân thành nhiều nhánh, đôi khi rễ có thể bị úng, thối và chết. Còn nếu trồng trên đất cát đen thì rễ Mẫu đơn to nhưng vỏ lại mỏng, dược tính không cao.Mẫu đơn thích đất mới khai hoang do đó ở nước ta cây thường được trồng ở Lào Cai, SaPa.

4. Thu hái – Sơ chế

Mẫu đơn sau khi trồng 3 năm thì có thể thu hoạch được. Thông thường mùa thu hoạch thường rơi vào tháng 7 – 11. Tuy nhiên, thu hoạch vào mùa hè vào khoảng tháng 9, cây cho năng suất cao hơn 10 – 15% và chất lượng dược liệu cũng tốt hơn.Khi thu hoạch nên dùng cào có 2 răng, răng cào nên dài khoảng 30 – 50 cm, to bằng ngón trỏ, khoảng cách 2 răng từ 10 – 20 cm. Khi đào cần nhìn vào khoảng đất nứt quanh gốc cây, xới đất dần dần nhẹ nhàng đến khi lấy hết được phần rễ. Khi đào cần cẩn thận không để xây xát hoặc làm đứt rễ.

Thu hái mang về cắt bỏ phần rễ tơ, rửa sạch đất cát. Dùng mảnh tre hoặc mảnh thủy tinh cạo sạch lớp vỏ ngoài, rồi rạch một đường thẳng theo chiều dọc của rễ, bỏ phần lõi chỉ lấy phần vỏ. Nếu trời mưa thì không cạo vỏ ngoài và không rút ruột để tránh ảnh hưởng đến dược liệu.

Sau đó cắt thành nhiều đoạn ngắn, dài khoảng 15 – 17 cm rồi mang đi sấy hoặc phơi khô. Trong thời gian phơi nắng, buổi tối phải mang dược liệu vào nhà tránh phơi sương. Khi lưu trữ không được chất thành đống, phải để tách biệt. Bởi vì chất đống có thể làm rễ chua, chuyển thành màu đen và chất dầu trong rễ sẽ làm giảm chất lượng dược liệu.

Qua công đoạn sơ chế, Đan bì có thể bào thành nhiều lát mỏng, phơi trong bóng râm, tẩm rượu hoặc sao cháy bảo quản dùng dần.

5. Bảo quản dược liệu Mẫu đơn bì

Đơn bì cần được bảo quản trong lọ thủy tinh hoặc lọ kín để tránh dập nát. Lưu trữ dược liệu ở nơi thoáng mát, nhiệt độ phòng, đậy kín sau mỗi lần sử dụng để tránh côn trùng, mối mọt.

6. Thành phần hóa học

Theo Vu Tân, Dược Học Học Báo 1985, Mẫu Đơn bì chứa một số thành phần hóa học như:PaeoniflorinPaeonolideOxypaeonilorinPaeonolApiopaeonosideBenzoylpaeonilorinOxypaeonilorin

Theo Bắc Xuyên Huân, Sinh Dược Học Tạp Chí, 1979 – Nhật Bản, Đơn bì chứa thành phần chủ yếu là:BenzoyloxypaeonilorinTheo Lin Hang Ching và cộng sự, Đơn bì chứa:3 – Dihydroxy – 4 – Methoxyacetophenone3 – Hydroxy – 4 – Methoxya Cetophenone

Theo Takechi M và cộng sự, 1982 Mẫu đơn bì chứa thành phần chủ yếu là:6 – Pentagalloylglucose

Vị thuốc Mẫu đơn bì

1. Tính vị

Vị cay, tính hàn (theo Bản kinh)Vị đắng, cay, tính hàn nhẹ (theo Đông dược học thiết yếu)Vị đắng, hơi hàn, không chứa độc (theo Biệt lục)Vị đắng, hơi cay, tính mát (theo Trung dược đại từ điển)Vị cay, chua, tính hàn (theo Trấn nam bản thảo

2. Quy kinh

Kinh Tâm, Thận, Can (theo Trung dược đại từ điển)Kinh Phế (theo Lôi công bào chích luận)Kinh Thận, Can, Tâm, Tâm Bào (theo Lâm sàng thường dược trung dược thủ sách)Kinh túc Thiếu âm thận, thủ Quyết âm Tâm bào (theo Trân châu nang)

3. Tác dụng dược lý

Theo nghiên cứu của y học hiện đại:Chống viêm, kháng khuẩn, tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn, hỗ trợ điều trị các bệnh đài tràng.Hạ nhiệt cơ thể, hỗ trợ giảm đau.An thần, ức chế hệ thống thần kinh, chống co giật.Hỗ trợ hạ huyết áp.Ức chế sự phát triển và hoạt động của trực khuẩn bạch hầu.Theo y học cổ truyền:Sinh huyết, lương huyết, hòa huyết (theo Bản thảo cương mục)Thanh nhiệt, tiêu ứ, hòa huyết, lương huyết (theo Trung dược đại từ điển)Tán ứ huyết, hỗ trợ thanh nhiệt (theo Đông dược học thiết yếu)Tiêu trũng, triệt nhiệt ở huyết, hành huyết, phá huyết (theo Trấn nam bản thảo)Chỉ định điều trị:Nhiệt nhập dinh huyết, gây sốt về chiềuPhát ban ngoài daĐiều hòa kinh nguyệtMụn nhọt, đinh nhọt, ghẻ ngứaTrường ungThổ huyết, nôn ra máuHuyết hưChữa lành vết thương do chấn thương, dao cắt

4. Cách dùng – Liều lượng

Đơn bì được sử dụng dưới dạng bột mịn cùng với rượu nóng hoặc sắc cô đặc dùng nước uống. Nên sử dụng Mẫu đơn bì khi còn ấm nóng, nếu thuốc nguội nên hâm nóng lại trước khi sử dụng.Liều lượng khuyến cáo: 8 – 20 g mỗi ngày.

Bài thuốc sử dụng Mẫu đơn bì

1. Chữa phong hàn nhiệt độc gây lở loét bằng hạt đậuDùng 10 g Đơn bì, Hoàng cầm (bỏ phần lõi đen), Đại hoàng (sao vàng), Ma hoàng (bỏ rễ và phần đốt), mỗi vị 6 g, Sơn chi tử 3 g. Mang tất cả dược liệu tán thành mảnh nhỏ, trộn đều. Mỗi lần sử dụng 5 g sắc với 200 ml nước đến khi còn lại 100 ml thì bỏ bã, dùng uống khi còn nóng.

2. Chữa huyết áp caoDùng 60 g Đơn bì sắc với 400 ml nước, đến khi còn 150 ml thì chia thành 3 lần để uống trong ngày khi còn ấm.

3. Chữa phụ nữ nóng trong xương, kinh mạch không thông, người gầy yếuDùng 60 g Mẫu đơn bì, Mộc thông (cắt nhỏ, sao vàng), Nhục quế, Bạch thược, mỗi vị 40g, rễ Khổ qua 60g, Đào nhân (bỏ vỏ, đầu nhọn, sao vàng) 40 g. Tất cả dược liệu mang đi tán nhỏ, mỗi lần dùng 5 g nấu với 300 ml nước khi còn 150 ml thì bỏ bã, chia thành 2 lần uống khi còn ấm trong ngày.

4. Chữa viêm mũi dị ứngDùng 100 g Đơn bì sắc cùng 300 ml nước còn 100 ml. Mỗi tối uống 50 ml. Uống liên tục 10 ngày là kết thúc 1 liệu trình.

5. Chữa trường ung, đau phát sốt, ra mồ hôi trộm, sợ lạnh, bụng dưới sưng đau, mạch trì khẩnSử dụng 40 g Mẫu đơn bì, Đại hoàng 160 g, Đào nhân 50 hạt, Mang tiêu 30 g sắc cùng 600 ml nước. Đến khi còn 150 ml thì bỏ phần bã, cho mang tiêu vào, đun sôi lại, dùng uống khi còn nóng.

6. Chữa lở loét hạ bộ, vết thương lở loét sâuSử dụng Mẫu đơn bì tán nhỏ, ngày uống 3 lần cùng với rượu ấm, mỗi lần dùng khoảng 1 thìa cà phê.

7. Trị bìu sa sệ, sưng to một bên, tinh hoàn một bên to một nhỏSử dụng Phòng phong, Đơn bì, mỗi vị phân lượng bằng nhau, nghiền nhỏ, trộn đều. Mỗi lần dùng 8 g với rượu ấm.

8. Điều trị ngộ độc thịt thúSử dụng Mẫu đơn bì tán thành bột mịn, mỗi ngày dùng uống 3 lần vào sáng, chiều, tối, mỗi lần dùng 4 g.

9. Điều trị xơ cứng động mạchSử dụng 10 – 12 g Đơn bì, 20 – 40 g Thạch quyết minh, Kim ngân hoa, Kê huyết đằng, mỗi vị 20 g, Cúc hoa, Bội lan mỗi vị 12 g. Mang các vị thuốc sắc uống trong ngày.

10. Bài thuốc điều trị máu xấu ở phụ nữSử dụng Đơn bì và Can tất, mỗi vị 20 g sắc thành thuốc dùng uống khi còn nóng.

11. Chữa huyết nhiệt ở phụ nữ sau sinhDùng Đơn bì, Xuyên khung, Chi tử, mỗi vị 8 g, Bạch thược, Đương quy mỗi vị 12 g, Thục địa 16 g, sắc thành thuốc, dùng uống khi còn nóng.

12. Chữa tắc kinh, ứ huyếtSử dụng Mẫu đơn bì, Mộc thông, Đào nhân, Xích thược, Mộc thông, Thổ qua căn, mỗi vị 12 g, Nhục quế 2 g sắc thành thuốc, dùng uống trong ngày.13. Trị kinh nguyệt sớm, máu kinh đen hôi, kinh ra nhiều, kinh chứa máu đôngSử dụng Mẫu đơn bì, Địa cốt bì, Thanh hao, Bạch thược và Phục linh mỗi vị 12 g, Hoàng bá 8 g, Thục địa 16 g sắc thuốc, dùng uống khi còn nóng.

Kiêng kỵ và lưu ý khi sử dụng Mẫu đơn bì

Kiêng kỵ:

Kỵ Thỏ ty tử (theo Bản thảo kinh tập chú)Kỵ Tỏi (theo Nhật hoa tử bản thảo)Kỵ Hò tuy (ngò) (theo Cổ kim lục nghiệm)Sợ Bối mẫu và Đại hoàng (theo Đường bản thảo)

Lưu ý:

Phụ nữ có thai không được dùng để tránh gây ảnh hưởng đến thai nhi.Người có kinh nguyệt quá nhiều cần thận trọng khi dùng.Người bị âm hư, thường đổ mồ hôi không dùng.Người vị khí hư hàn, tướng hỏa suy không dùng.Mẫu đơn bì được sử dụng phổ biến trong nhiều bài thuốc điều trị các bệnh lý ở phụ nữ. Mặc dù được cho là vị thuốc lành tính không gây độc tuy nhiên, người bệnh nên trao đổi với thầy thuốc về liều lượng và cách dùng để đảm bảo an toàn khi sử dụng dược liệu.

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN:– KHA TỬ – DƯỢC LIỆU TỪ THIÊN NHIÊN– HUYẾT KIỆT VÀ CÁC CÔNG DỤNG CHỮA BỆNH

Mẫu Bản Dịch Nhãn Thuốc Và Tờ Hdsd Thuốc Từ Anh Sang Việt

Inhaled anesthetics

Thuốc gây mê dạng hít

Each 250 ml bottle contains:

Mỗi chai 250 ml chứa:

Active ingredient: Sevoflurane USP 250 ml

Hoạt chất: Sevoflurane USP 250 ml

Excipients: no

Tá dược: không có

Độ tan: Vì độ hòa tan kém của Sevoflurane trong máu (hệ số phân chia máu/khí ở 37°C = 0.63 – 0.69), một lượng tối thiểu Sevoflurane cần thiết tan trong máu trước khi áp lực từng phần ở phế nang cân bằng với áp lực từng phần ở động mạch. Vì vậy có tốc độ tăng nhanh trong nồng độ phế nang (cuối dòng FA) đến nồng độ mong muốn (FI) trong dẫn mê.

Induction: In a study in seven healthy male volunteers using 70%N2O/30%O2 for 30 minutes followed by 1.0% sevoflurane and 0.6% isoflurane for another 30 minutes, the ratio of FA / FI for sevoflurane is higher than isoflurane at all times. Time for alveolar concentration to reach 50% desired concentration is 4-8 minutes for isoflurane and 1 minute for sevoflurane. Data of FA / FI from this study were compared with other halogenated anesthetics from other studies. When all the data are standardized under isoflurane, absorption and distribution of sevoflurane faster than isoflurane, but slower than desflurane.

Dẫn mê: Trong một nghiên cứu ở 7 người tình nguyện nam khỏe mạnh dùng 70%N2O/30%O2 trong 30 phút tiếp theo là 1.0% sevoflurane và 0.6% isoflurane thêm 30 phút nữa, tỷ số FA/FI cho sevoflurane lớn hơn so với isoflurane ở mọi thời điểm. Thời gian để nồng độ phế nang đạt 50% nồng độ mong muốn là 4-8 phút cho isoflurane và 1 phút cho sevoflurane. Dữ liệu FA/FI từnghiên cứu này được so sánh với các thuốc gây mê halogen khác từ nghiên cứu khác. Khi tất cả các dữ liệu được chuẩn hóa theo isoflurane, sự hấp thu và phân phối sevoflurane nhanh hơn isoflurane, nhưng chậm hơn desflurane.

Consciousness: low solubility of sevoflurane helps to rapidly excreted through the lungs. Elimination rate is calculated according to the speed of alveolar concentration change after the stop of anesthesia (F), compared with last alveolar concentration (FAO) measured immediately before this anesthesia stop.

Hồi tỉnh: Độ hòa tan thấp của sevoflurane giúp thải trừ nhanh qua phổi. Tốc độ thải trừ được tính theo tốc độ thay đổi nồng độ phế nang sau khi kết thúc gây mê (F), so với nồng độ phế nang sau cùng (FAo ) được đo ngay trước khi ngừng thuốc mê này.

Protein binding: The effects of sevoflurane on the replacement of drugs from serum and tissue proteins have not been studied. Other fluoride containing volatile anesthetics showed replacement of medicines from tissue and serum protein in vitro. Unknown clinical significance of this phenomenon.

Gắn với protein: Tác dụng của sevoflurane lên sự thay thế các thuốc từprotein mô và huyết thanh chưa được nghiên cứu. Các thuốc gây mê bay hơi chứa fluoride khác cho thấy có sự thay thế các thuốc từ protein mô và huyết thanh invitro. Chưa biết ý nghĩa lâm sàng của hiện tượng này Chuyển hóa:

Sevoflurane is metabolized by P450 2E1 cytocrom into hexafluoroisopropanol (HFIP) with release of inorganic fluoride and CO2. Once HFIP is formed it quickly conjugated to glucuronic acid and excreted as metabolites in urine. The other metabolic cycle for sevoflurane have been identified.

Sevoflurane được chuyển hóa bởi cytocrom P450 2E1, thành hexafluoroisopropanol (HFIP) với sự phóng thích fluoride vô cơ và CO2. Một khi HFIP được tạo thành nó nhanh chóng liên hợp với acid glucuronic và được thải trừ dưới dạng chất chuyển hóa trong nước tiểu. Những chu trình chuyển hóa khác cho sevoflurane đã được nhận diện.

The in vivo metabolic studies show that approximately 5% sevoflurane dose used may be transformed.

Những nghiên cứu chuyển hóa in vivo cho thấy khoảng 5% liều sevoflurane đã dùng có thể được chuyển hóa.

Cytocrom P450 2E1 is the principal form of copper metabolism qualitative sevoflurane and this can be induced by long-term exposure to isoniazid and etanol. This is similar to isoflurane and enflurane metabolism and is distinguished with methoxyflurane, metabolized by various P450 cytocrom types. The metabolism of sevoflurane may not be induced by barbituarat.

Cytocrom P450 2E1 là chất đồng dạng chính được định tính cho sự chuyển hóa sevoflurane và điều này có thể được gây cảm ứng bởi sự phơi nhiễm lâu dài với isoniazid và etavớinol. Điều này tương tựvới sự chuyển hóa isoflurane và enflurane và được phân biệt với methoxyflurane, được chuyển hóa qua nhiều loại Cytocrom P450. Sự chuyển hóa sevoflurane không thể gây cảm ứng bằng barbituarat.

Elimination: Up to 3.5% sevoflurane dose appears in the urine as inorganic fluoride. Studies show that up to 50% of fluoride clearance is not through the kidneys fluoride (fluoride is absorbed into the bone).

Thải trừ: Đến 3.5% liều sevoflurane xuất hiện trong nước tiểu dưới dạng fluoride vô cơ. Các nghiên cứu trên fluoride cho thấy đến 50% sự thanh thải fluoride là không qua thận (fluoride được hấp thụ vào xương).

Sevoflurane is a respiratory anesthetic used in anesthesia and maintenance guide. Depth of anesthesia changes rapidly in response to changes in sevoflurane concentrations inhaled. Consciousness and recovery are particularly rapid. So the patient may need to reduce postoperative pain soon.

Sevoflurane là thuốc gây mê đường hô hấp được sử dụng trong dẫn mê và duy trì. Độ sâu của gây mê thay đổi nhanh theo sự thay đổi nồng độ sevoflurane hít vào. Tỉnh và hồi phục đặc biệt nhanh. Vì vậy người bệnh có thể cần đến giảm đau sau mổ sớm.

In the health program, the following recovery parameters were evaluated:

Trong những chương trình y tế, những tham số hồi phục sau đây được đánh giá:

1. The time to work is measured from the end of study medication:

1. Thời gian đến lúc tác dụng được đo từ lúc kết thúc thuốc nghiên cứu:

– The time to withdraw tracheal extubation (tube withdrawal time).

– Thời gian đến lúc rút ống nội khí quản (thời gian rút ống).

– The time required for the patient to open his eyes when he hears the command (consciousness time).

– Thời gian cần cho bệnh nhân mở mắt khi nghe lệnh (thời gian tỉnh).

– The time to respond to a simple command (for example, hold my me) or to show purposeful movement.

– Thời gian đáp ứng với lệnh đơn giản (ví dụ: hãy nắm tay tôi) hoặc cho thấy cử động có mục đích.

2. The rehabilitation of awareness and coordination is evaluated based on:

2. Sự phục hồi chức năng ý thức và phối hợp động tác được đánh giá dựa trên:

– Test method on psychomotor capabilities (Alternative test method no. [DSST]; test method Treiger Dot)

– Nghiệm pháp năng lực tâm thần vận động (Nghiệm pháp thay thế ký hiệu số [DSST]; nghiệm pháp Treiger Dot) A29

– Subjective measure (visual scale [VAS]) and objective measure (pain-discomfort scale [ OPDS]).

– Những số đo chủ quan (Thang thị giác [VAS]) và khách quan (thang đau-khó chịu [OPDS]).

– Time to the first postoperative analgesia.

– Thời gian đến lúc dùng thuốc giảm đau hậu phẫu đầu tiên.

– Assess the patient’s condition after anesthesia.

– Đánh giá tình trạng bệnh nhân sau gây mê.

3. Other recovery time:

3. Các thời gian phục hồi khác là:

– Time to reach Aldrete scores ≥8

– Thời gian đạt điểm Aldrete ≥8

– Time required for patients to leave the recovery area, according to local standards.

– Thời gian cần thiết cho bệnh nhân rời khu hồi sức, theo tiêu chuẩn tại chỗ.

– Time for patients eligible to be discharged.

– Thời gian khi bệnh chân đủ điều kiện xuất viện.

– Time for patient to sit up or stand up without dizziness.

– Thời gian khi bệnh nhân có thể ngồi dậy hoặc đứng dậy mà không chóng mặt.

As with other inhalation anesthetic, Sevoflurane inhibits cardiovascular function corresponding to the dose.

Cũng như các thuốc mê đường hô hấp khác, Sevoflurane ức chế chức năng tim mạch tương ứng với liều lượng.

In a study on volunteers, the increased levels of Sevoflurane reduces mean arterial blood pressure and no change in heart rate. In this study, Sevoflurane has no effect on noradrenaline concentrations in plasma. No sightings of seizures in clinical research program. In patients with normal intracranial pressure (ICP), Sevoflurane had little effect on ICP and on the response to CO2.

Trong một công trình nghiên cứu trên người tình nguyện tăng nồng độ Sevoflurane làm giảm huyết áp động mạch trung bình và không có sự thay đổi nhịp tim. Trong nghiên cứu này, Sevoflurane không có ảnh hưở ng đến nồng độ noradrenalin trong huyết tương. Không quan sát thấy các cơn động kinh trong chương trình nghiên cứu lâm sàng. Ở người bệnh có áp lực nội sọ bình thường (ICP), Sevoflurane có tác dụng rất ít trên ICP và trên sự đáp ứng với CO2.

The safety of Sevoflurane has not been studied in patients with increased ICP. For patients at risk for increased intracranial pressure, Sevoflurane should be used with caution and in collaboration with ICP reduction methods such as hyperventilation.

Độ an toàn của Sevoflurane chưa được nghiên cứu trên người bệnh có tăng ICP. Với người bệnh có nguy cơtăng áp lực nội sọ, cần sử dụng Sevoflurane thận trọng, phối hợp với các phương pháp giảm ICP nhưtăng thông khí.

Use for maintaining anesthesia in inpatient and outpatient surgeries for both adults and children patients. Sevoflurane is only used by staff trained in anesthesia. The means for maintaining the airway, artificial ventilation, oxygen enrichment and circulatory resuscitation must be available. Since levels of anesthesia may be changed quickly, only take the generated gas appliances that can produce predictable Sevoflurane concentrations.

Dùng dẫn mê và duy trì mê cho các phẫu thuật nội trú và ngoại trú ởcả người lớn và trẻ em cho bệnh nhân nội và ngoại trú. Sevoflurane chỉ được sử dụng bởi nhân viên được huấn luyện gây mê. Các phương tiện để duy trì đường thở, thông khí nhân tạo, làm giàu oxygen, và hồi sức hệ tuần hoàn phải có sẵn. Vì mức gây mê có thể thay đổi nhanh, chỉ nên dùng những dụng cụ tạo khí tạo ra những nồng độ Sevoflurane tiên đoán được.

– Not for people who are known to be susceptible to Sevoflurane.

– Không dùng cho người được biết là mẫn cảm với Sevoflurane.

– Contraindicated in people who is known or suspected to have an inherited sensitivity with malignant high fever.

– Chống chỉ định ở người đã biết hoặc nghi ngờcó nhạy cảm do di truyền với chứng sốt cao ác tính.

– Keep medicines out of reach of children.

– Giữthuốc ngoài tầm với trẻ em.

– Only employees who have been trained in anesthesia can use Sevoflurane. It should be available means to maintain the airway, artificial ventilation, oxygen supply, circulation recovery.

– Chỉ những nhân viên đã được đào tạo về gây mê mới có thể sử dụng Sevoflurane.

– The use of standardized average evaporation specifically for Sevoflurane to provide plasma levels are checked correctly. Hypotension and respiratory depression increase in deep anesthesia.

Cần phải có sẵn những phương tiện để duy trì đường thở, hô hấp nhân tạo, cung cấp oxy, hồi phục tuần hoàn.

– Sevoflurane should be used with caution in people with kidney desease.

– Nên dùng bình bốc hơi được chuẩn hoá đặc biệt cho Sevoflurane để nồng độ thuốc cung cấp được kiểm tra chính xác. Hạ huyết áp và ức chế hô hấp tăng lên khi gây mê sâu – Sevoflurane nên sử dụng thận trọng ởbệnh nhân suy thận.

– Sevoflurane may increase the risk in patients with a history of sensitivity to halogenated anesthetics.

– Sevoflurane có thể làm tăng nguy cơ ởbệnh nhân có tiền sửnhạy cảm với thuốc gây mê halogen dễ hay hơi.

– Seizures were rarely reported related to the use of Sevoflurane.

– Maintenance of anesthesia: During the maintenance of anesthesia, increasing levels of Sevoflurane reduces blood pressure, depending on the dose. Excessive decrease in blood pressure may have related to the depth of anesthesia, which can raise the blood pressure by reducing the concentration of Sevoflurane inhalation. The recovery after anesthesia should be assessed carefully before moving the patient from the recovery room.

– Malignant Fever: In certain sensitive individuals, the potent inhalation may cause increased metabolism in skeletal muscle, leading to increased oxygen demand and the clinical syndrome known as malignant fever. The syndrome also have nonspecific features such as muscle rigidity, tachycardia, tachypnea, cyanosis, arrhythmias, unstable blood pressure. Treatment consists of removing reactive substances (eg Sevoflurane), intravenous Dantrolene sodium, treatment support. Renal failure may appear slower, so we should monitor and maintain urine flow if possible.

– Sốt cao ác tính: Ởmột số người mẫn cảm, các thuốc mê hô hấp mạnh có thể gây tăng chuyển hoá ởcơxương, dẫn tới tăng cao nhu cầu oxy và hội chứng lâm sàng được biết là sốt cao ác tính. Hội chứng còn có những nét không đặc hiệu như co cứng cơ, nhịp tim nhanh, thở nhanh, tím tái, loạn nhịp tim, huyết áp không ổn định. Điều trị gồm loại bỏ chất gây phản ứng (chẳng hạn Sevoflurane), tiêm tĩnh mạch natri dantrolene, điều trị hỗ trợ. Suy thận có thể xuất hiện chậm hơn, nên theo dõi và duy trì lưu lượng nước tiểu nếu có thể.

– Hyperkalemia in phases of surgery: Use of respiratory anesthetic agents related to increased blood potassium levels, although extremely rare, can result in arrhythmia and mortality in children during the postoperative period. This situation has been described in patients with underlying neuromuscular disease and publicity, especially Ducheme muscular dystrophy. Use suxamethodium related to most but not all cases. These patients have seen no evidence of muscle injury associated increased levels of creatine kinase and myoglobin urine. These patients did not have signs of fever malignant classics as muscle rigidity, rapid increase in body temperature, or increased oxygen uptake and carbon dioxide production increases. Note and treatment of hyperkalemia and arrhythmias is recommended. Following the evaluation of potential patients is indicated.

– Impairment of liver function: The results of the evaluation of laboratory parameters (eg ALT, AST, alkaline phosphatase and bilirubin etc …) as well as the report of the investigation of cases with side effects related to liver function demonstrate that sevoflurane can be used for patients with hepatic impairment from mild to moderate levels. However, patients with severe hepatic impairment has not been investigated. Occasional cases of transient changes of liver function tests after surgery has been reported with both sevoflurane and reference drugs. Very few cases of mild, moderate and severe postoperative liver dysfunction. Liver failure or hepatitis with jaundice have been reported during drug circulation. It is recommended to perform the clinical evaluation using Sevoflurane for liver disease patients being treated with medication or hurt liver function.

– Compound A: When in direct contact with the CO2 absorber, Sevoflurane makes up the compound A [pentafluoroisopropenyl flometyl ether (PIFE)] with low level and traces of a compound B [pentafluorromethoxy flometyl isopropyl] ether (PMFE) ]. The amount of compound A increases with increasing temperature of the drug containers, increasing the concentration of anesthetic, reducing airflow and increase the use of lime barytes more than when used with soda. In several laboratory studies on rats, it is found that animals exposed to levels in excess of common level in clinical practice will be toxic to the kidneys. Mechanisms of Sevoflurane renal toxicity for rats is unknown and its relevance to the matter in humans remains unproven.

– Replacement of dry sorbent CO2: exothermic reactions occur with Sevoflurane and absorber increased when dry sorbent CO2 began to exceed those because after a long period of dry gas flow blowing through and / or spontaneous fire in anesthesia machine have been reported during use of Sevoflurane in combination with the use of dry sorbent CO2. Sevoflurane concentration increases abnormally slow or abnormal decrease compared with the average normalized concentration may be related to excessive heating of the CO2 absorber box. When clinically suspected CO2 absorber can be dry, it should be replaced before using Sevoflurane. Color indicator of most CO2 absorbent unnecessary change with the drying process. Therefore, the lack of significant color change is not done because of all definitely hydrate. CO2 absorber should be replaced regularly regardless of the status of the indicator color.

Pharmaceutical Precautions:

Thận trọng dược:

– Sevoflurane is chemically stable. Just like other halogenated anesthetic medicine, Sevoflurane degrades past a small part in direct contact with CO2 absorbents. Level of breakdown clinically insignificant, no dosage adjustment or change in clinical practice using closed circuit. When using lime barytes, breakdown of the compound A is higher than using lime soda.

– Sevoflurane được ổn định về mặt hoá học. Cũng giống nhưmột số thuốc gây mê halogen khác, Sevoflurane bị giáng hoá một phần nhỏ qua tiếp xúc trực tiếp với các chất hấp phụ CO2. Mức độ giáng hoá không có ý nghĩa lâm sàng, không cần điều chỉnh liều hoặc thay đổi trong thực hành lâm sàng khi sử dụng chu trình kín. Khi dùng vôi Baryt lượng hợp chất giáng hoá A sinh ra cao hơn khi dùng vôi Soda.

With intravenous anesthetics:

Với các thuốc gây mê tiêm tĩnh mạch:

Use Sevoflurane is compatible with barbiturates, propofol, and the intravenous anesthetics other.

Dùng Sevoflurane tương hợp với barbiturat, propofol, và các thuốc gây mê tiêm tĩnh mạch khác.

With Opioids Benzodiazepines:

Với Benzodiazepine các opioid:

Benzodiazepines and opioids decrease the MAC of Sevoflurane same way with other inhaled anesthetics. Use Sevoflurane is compatible with benzodiazepines and opioids used in surgery.

Benzodiazepine các opioid làm giảm MAC của Sevoflurane cùng cách với các thuốc gây mê dạng hít khác. Dùng Sevoflurane tương hợp với benzodiazepine, các opioid dùng trong phẫu thuật.

N2O: Also like halogenated anesthetics inhaled, demand of Sevoflurane decreased when used with N2O. Using 50% N2O, the MAC equivalent dose demand decreased approximately 50% in adults and 25% in pediatric patients (see dosage and administration).

N2O: Cũng nhưvới các thuốc gây mê halogen dạng hít, nhu cầu Sevoflurane giảm khi dùng với N2O. Sử dụng N2O 50%, nhu cầu liều tương đương MAC giảm khoảng 50% ở người lớn và khoảng 25% ởbệnh nhi (xem liều lượng và cách dùng).

Neuromuscular block drugs:

Các thuốc phong bế thần kinh:

– As with other inhaled anesthetics, Sevoflurane increases the intensity and duration of neuromuscular block induced by the muscle relaxant is not polarized. When used to complement alfetanil-NO anesthetic, Sevoflurane and isoflurane increases equivalent to the neuromuscular block induced by pancuronium, vecuronium only or atracurium. So during anesthesia with Sevoflurane, dosage adjustments of this muscle relaxant. The synergy of the neuromuscular blocking drugs requires a balancing of the partial pressure of Sevoflurane.

– Cũng nhưvới các thuốc gây mê dạng hít khác, Sevoflurane làm tăng cường độ và thời gian phong bế thần kinh cơ cảm ứng bởi các thuốc giãn cơ không phân cực. Khi sửd ụng để b ổ sung cho thuốc gây mê alfetanil-NO, Sevoflurane và isoflurane làm tăng tương đương sự phong bế thần kinh cơcảm ứng bởi pancuronium, vecuronium hoặc atracurium. Vì vậy trong khi gây mê bằng Sevoflurane, cần điều chỉnh liều các thuốc giãn cơ này. Sự cộng lực của các thuốc phong bế thần kinh cơ đòi hỏi sự cân bằng của cơvới áp lực từng phần của Sevoflurane.

– Dose reduction of neuromuscular blocking drugs during anesthesia can lead to slow emergence of conditions suitable for endotracheal stenting.

– Liều giảm đi của các thuốc phong bế thần kinh cơ trong khi dẫn mê có thể làm chậm xuất hiện những điều kiện thích hợp cho việc đặt ống thông nội khí quản.

– Among the non-polar drugs available, only interactions pancuronium, vecuronium only or atracurium been studied in anesthesia with Sevoflurane.

– Trong số các thuốc không phân cực sẵn có, chỉ có các tương tác pancuronium, vecuronium hoặc atracurium được nghiên cứu trong gây mê bằng Sevoflurane.

When there are no specific guidelines:

Khi chưa có những nguyên tắc hướng dẫn cụ thể:

1. To place the endotracheal tube, no dose reduction of non-polar muscle relaxant drug.

1. Để đặt ống thông nội khí quản, không giảm liều các thuốc không giãn cơphân cực.

2. While maintaining anesthesia, the dose required for non-polar muscle relaxant drug can reduce NO2 equivalent narcotic / opioid. Additional doses of muscle relaxant to be guided by in response to nerve stimulation.

2. Trong khi duy trì gây mê, liều cần thiết cho các thuốc không giãn cơ phân cực có thể giảm tương đương với thuốc mê NO2/opioid. Dùng liều bổ sung thuốc giãn cơ được hướng dẫn bởi đáp ứng với kích thích thần kinh.

Effect of Sevoflurane on the duration of action of neuromuscular block induced by succinylcholyl not been studied.

Tác dụng của Sevoflurane lên thời gian tác dụng của sự phong bế thần kinh cơ phân cực cảm ứng bởi succinylcholyl chưa được nghiên cứu.

Thermal reaction may occur when sevoflurane exposure to CO2. This response increases as sorbent CO2 being dry, following a long period of dry gas flow passing average CO2 suction. Rarely often the temperature rises too high, removal of smoke in snorkel when using sevoflurane with desiccant CO2, especially when there KOH (Baralyme). As with other inhaled anesthetics, cleavage and cleavage products can occur when sevoflurane exposure to desiccant gets dry out. When doctors suspect CO2 absorber can dry out, they should be replaced immediately. The color of the indicator of most CO2 aspirate may not change when dry. So no discoloration does not mean enough hydration. CO2 absorber must be replaced regularly.

Phản ứng sinh nhiệt có thể xảy ra khi sevoflurane tiếp xúc với chất hấp thụ CO2. Phản ứng này tăng khi chất hấp thụ CO2 bị khô, như sau một thời gian dài dòng khí khô đi qua bình hút CO2. Hiếm gặp thường hợp nhiệt độ tăng quá cao, bóc khói trong ống thở khi dùng sevoflurane cùng với chất hút ẩm CO2, nhất là khi có KOH (Baralyme). Cũng nhưvới các thuốc gây mê dạng hít khác, sự phân cắt và các sản phẩm phân cắt có thể xảy ra khi sevoflurane tiếp xúc với chất hút ẩm bị khô. Khi bác sĩ nghi ngờ chất hấp thụ CO2 có thể bị khô, phải thay ngay. Màu của chất chỉ thị của hầu hết các chất hút CO2 có thể không đổi khi khô. Vì vậy, không đổi màu không có nghĩa là hydrat hóa đủ. Chất hấp thụ CO2 phải được thay thế thường xuyên.

MAC decreases with increasing age. The concentration of sevoflurane average MAC in people at 80 years of age reached 50% of people at 20 years of age.

MAC giảm khi tuổi tăng. Nồng độ trung bình của sevoflurane đạt MAC ởngười 80 tuổi khoảng 50% người 20 tuổi.

– Induction and maintenance of anesthesia with sevoflurane are well known in the clinical studies in children aged 1-18 years old.

– Dẫn mê và duy trì mê bằng sevoflurane đã được biết rõ trong các nghiên cứu lâm sàng ở trẻ em từ1-18 tuổi.

– The concentration of sevoflurane necessary to maintain anesthesia depends on age. When combined with N2O, the MAC equivalent dose of sevoflurane should be reduced.

– Nồng độ của sevoflurane cần để duy trì mê phụ thuộc tuổi. Khi kết hợp với N2O, liều sevoflurane tương đương MAC phải giảm.

– Use sevoflurane majority epilepsy often occurs in children from 2 months of age, most of them have risk factors.

– Dùng sevoflurane thường gây động kinh đa số gặp ởtrẻ em từ2 tháng tuổi, hầu hết là có yếu tố nguy cơ.

– Be aware of sevoflurane concentrations distributed from the average evaporation using calibrated vaporizers especially for isoflurane. The use of anesthetics to each person based on the patient’s response.

– Phải biết nồng độ của sevoflurane được phân phối từ từ bình hóa hơi bằng cách sử dụng bình hóa hơi chia độ đặc biệt cho isoflurane. Việc dùng thuốc mê phải theo từng người dựa trên đáp ứng của bệnh nhân.

– Replacement of CO2 absorbers getting dry out:

– Thay thế chất hút CO2 đã khô:

When a doctor suspected of CO2 absorbers getting dry out, replace it. Exothermic reactions may occur with sevoflurane and CO2 increases when CO2 absorbers getting dry out, as after exposure to long periods of CO2 gas stream through desiccants.

Khi một bác sĩ nghi ngờ chất hút CO2 đã khô, phải thay ngay. Phản ứng tỏa nhiệt có thể xảy ra với sevoflurane và chất hút CO2 tăng khi chất hút CO2 khô, như sau khi tiếp xúc trong thời gian dài của dòng khí qua chất hút CO2.

– Pre-anesthesia: Pre-anesthesia is selected depending on the status of each patient and the discretion of the anesthetist.

– Tiền mê: Tiền mê được chọn tuỳ theo trạng thái của từng người bệnh và theo ý của chuyên viên gây mê.

– Induction: Sevoflurane has no pungent smell and does not irritate the respiratory; should use mask in pediatric and adults patients.

– Dẫn mê: Sevoflurane không có mùi hăng và không gây kích ứng hô hấp; nên dùng mặt nạ dẫn mê ở bệnh nhi và nguồi lớn.

– Maintain: The surgical anesthesia can be maintained with Sevoflurane replace 0.5-3% concentration with or without N2O.

– Duy trì: Độ mê phẫu thuật có thể được thay duy trì với Sevoflurane nồng độ 0,5-3% có hoặc không kèm N2O.

The table below indicates average MAC for different age groups.

– The drug was well tolerated. Most side effects are mild to moderate in intensity and transient. Often seen PONV in time after surgery with a similar percentage of other inhalation. In addition to nausea and vomiting, and other side effects are: hypotension adults, the elderly are hypotension and bradycardia, children’s anxiety and cough increased. The frequent side effects related to the use of Sevoflurane are: agitation, somnolence, chills, bradycardia, dizziness, increased salivation, respiratory disorders, high blood pressure, tachycardia , hives, fever, headache, hypothermia, increased SGOT.

– Allergic reactions such as rash, hives, itching, bronchospasm, anaphylaxis or shock reactions were reported. As with all other strong inhalation anesthetics, Sevoflurane may cause dose dependent cardiac-respiratory impair.

– Phản ứng dị ứng như phát ban, mày đay, ngứa, co thắt phế quản, phản ứng phản vệ hoặc phản ứng sốc đã được báo cáo. Cũng nhưtất cả các thuốc gây mê đường hô hấp mạnh khác, Sevoflurane có thể gây suy giảm tim mạch-hô hấp phụ thuộc liều.

– Though extremely rare, seizures may occur after use of Sevoflurane, especially in children.

– Cực kỳ hiếm nhưng co giật có thể xuất hiện sau khi sử dụng Sevoflurane, đặc biệt ở trẻ em.

– Very rare but there have been reports of pulmonary edema.

– Rất hiếm nhưng cũng đã có báo cáo về phù phổi.

“Inform your doctor unwanted effects encountered when using drugs”

” Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc”

If overdose, stop immediately, ensure the airway, start aid or controlled ventilation with pure oxygen and maintain proper heart function.

Nếu quá liều, cần ngừng thuốc ngay, đảm bảo thông đường thở, bắt đầu trợ giúp hoặc thông khí có kiểm soát với oxy tinh khiết và duy trì chức năng tim mạch thích hợp.

– Sevoflurane should only be used for pregnant women only if clearly needed.

– Sevoflurane chỉ nên sử dụng cho phụ nữmang thai khi thật sự cần thiết.

– It is not clear whether Sevoflurane is excreted in human milk or not, so it should be used cautiously in breastfeeding women.

– Chưa rõ Sevoflurane có bài tiết qua sữa hay không nên cần thận trọng khi dùng Sevoflurane ở người đang cho con bú.

As with other anesthetics, the patient should be informed clearly to avoid doing work that requires mental alertness for a while after being anesthesia as operating machinery. Patients are not allowed to drive for a suitable period after Sevoflurane anesthesia.

Cũng như các thuốc mê khác, cần thông báo cho bệnh nhân rõ là cần tránh làm những công việc đòi hỏi sự tỉnh táo về tinh thần trong một thời gian sau khi được gây mê toàn thân như vận hành các máy móc. Bệnh nhân không được phép lái xe trong một khoảng thời gian thích hợp sau khi gây mê bằng Sevoflurane.

SHELF LIFE: 60 months from date of manufacture.

HẠN DÙNG: 60 tháng kể từ ngày sản xuất.

STORAGE: Store at temperatures not exceeding 30 ° C. Do not freeze. For non volatile, should keep tightly closed. To the bottle in a vertical position.

BẢO QUẢN: bảo quản ở nhiệt độ không quá 30oC. Không để đông lạnh. Vì thuốc bay hơi, cần đậy kín nắp. Để chai ở vị trí thẳng đứng.

– Amber glass bottles.

– Chai thủy tinh màu hổ phách.

– Box 1 250ml bottle.

– Hộp 1 chai 250mL.

KEEP OUT OF REACH OF CHILDREN

ĐỂ XA TẦM TAY TRẺ EM

DIRECTIONS FOR USE CAREFULLY BEFORE USING

ĐỌC KỸ HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TRƯỚC KHI DÙNG

IF NEED MORE INFORMATION, PLEASE CONSULT YOUR PHYSICIAN REFERENCES MANUFACTURER:

NẾU CẦN THÊM THÔNG TIN, XIN THAM KHẢO Ý KIẾN BÁC SĨ NHÀ SẢN XUẤT:

PIRAMAL CRITICAL CARE, Inc 3950 Schelden Circle, Bethlehem, PA 18017, USA.

PIRAMAL CRITICAL CARE, Inc 3950 Schelden Circle, Bethlehem, PA 18017, USA.

AWN – 34556802

AWN – 34556802