Đề Xuất 1/2022 # Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng # Top Like

Xem 190,080

Cập nhật nội dung chi tiết về Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng mới nhất ngày 22/01/2022 trên website Hanoisoundstuff.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 190,080 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Từ Bài “bàn Luận Về Phép Học” Nêu Suy Nghĩ Mối Quan Hệ Giữa Học Và Hành
  • Soạn Bài Bàn Luận Về Phép Học
  • Có Nên Thi Bài Luận Sat? ?
  • 57 Đề Tài Tiểu Luận Môn Luật Tố Tụng Hình Sự, Báo Cáo Luật Hình Sự!
  • 310 Đề Tài Tiểu Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật, Tha Hồ Tham Khảo Nhé!
  • Tham nhũng là một thực trang rất nghiêm trọng ở nước ta hiện nay. Tham nhũng gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, cản trở sự phát triển của đất nước trong tiến trình hội nhập với thế giới, làm xí mòn long tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tệ nạn này diễn ra trên mọi lĩnh vực, từ cấp Trung ương đến địa phương. Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đồng bộ thể hiện sự quyết tâm trong việc đấu tranh chống tham nhũng. Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật Phòng chống tham nhũng được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 8 thông qua. Với tư cách là một giáo viên, giữ vai trò quan trong trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật Phòng chống tham nhũng đến học sinh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ” Những vấn đề cơ bản về pháp luật phòng, chống tham nhũng. Liên hệ thực tiễn về thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng hiện nay” để nâng cao hiểu biết, giúp công tác giảng dạy của bản thân đạt kết quả tốt hơn.

    – Nâng cao hiểu biết của bản thân về pháp luật Phòng, chống tham nhũng.

    – Nâng cao ý thức tự giác chấp hành các nội dung pháp luật Phòng, chống tham nhũng của bản thân

    – Nắm nội dung cơ bản của pháp luật Phòng, chống tham nhũng để phục vụ giảng dạy tốt hơn.

    3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

    3.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp:

    Trên cơ sở kinh nghiệm giảng dạy của bản thân qua nhiều năm công tác giảng dạy và quá trình nghiên cứu tài liệu sách báo, tôi tiến hành phân tích, lựa chọn một số phương pháp nâng cao nhận thức pháp luật có hiệu quả.

      Nội dung nghiên cứu đề tài

    – Những vần đề cơ bản của pháp luật phòng chống tham nhũng.

    – Liên hệ thực tiễn về việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng hiện nay.

    NỘI DUNG

      KHÁI NIỆM THAM NHŨNG

      1. Định nghĩa

      Tại khoản 2, Điều I của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi . Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước. Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu.

      2. Những đặc trưng cơ bản

      Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau:

      2.1. Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn

      Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó (khoản 3, Điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005).

      2.2. Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao

      “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Chủ thể tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng.

    2.3. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi

    Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng.

      Biểu hiện của hành vi tham nhũng

      Theo điều 3 Luật Phòng chống tham nhũng quy những hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham nhũng:

      – Tham ô tài sản.

      – Nhận hối lộ.

      – Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

      – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

      – Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

      – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.

      – Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.

      – Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.

      – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi.

      – Nhũng nhiễu vì vụ lợi.

      – Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

      – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

      – Về hành vi “đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi”: Đây là một biểu hiện mới của tệ tham nhũng. Do vẫn còn tồn tại cơ chế “xin – cho” trong nhiều lĩnh vực nên có nhiều cá nhân đại diện cho cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương đã tìm cách hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn phụ trách việc phê duyệt chương trình, dự án, cấp kinh phí, ngân sách để được lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình và thông qua đó để đạt được các lợi ích cá nhân. Hành vi này được coi là hành vi tham nhũng. Điều cần lưu ý là hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ là tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự không thuộc nhóm các tội phạm về tham nhũng mà thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ. Còn hành vi đưa hối lộ, làm môi giới hối lộ được thực hiện bởi chủ thể có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi thì mới được coi là hành vi tham nhũng. Hành vi này vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật hình sự với tội danh tương ứng (nếu hành vi đó cấu thành tội phạm), vừa là hành vi tham nhũng theo sự điều chỉnh của pháp luật về tham nhũng.

      – Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản nhà nước vì vụ lợi”: Đây là hành vi lợi dụng việc được giao quyền quản lý tài sản của nhà nước để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc một nhóm người nào đó thay vì phục vụ cho lợi ích công. Biểu hiện cụ thể của hành vi này thường là cho thuê tài sản như: nhà xưởng, trụ sở, xe ôtô và các tài sản khác nhằm vụ lợi. Số lượng tài sản cho thuê nhiều khi lớn. Hành vi này diễn ra khá phổ biến hiện nay.

      – Về hành vi “nhũng nhiễu vì vụ lợi”: Nhũng nhiễu là hành vi đã được mô tả trong phần thuật ngữ khái niệm. Cần nhấn mạnh thêm hành vi này xuất hiện trong hoạt động của một số cơ quan công quyền, nhất là tại các cơ quan hành chính, nơi trực tiếp giải quyết công việc của công dân và doanh nghiệp.

    – Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi”. Hành vi tham nhũng nhiều khi được che chắn thậm chí là có sự đồng lõa của những người có chức vụ, quyền hạn ở cấp cao hơn. Vì vậy, việc phát hiện và xử lý tham nhũng là hết sức khó khăn. Việc bao che cho người có hành vi tham nhũng, việc cản trở quá trình phát hiện tham nhũng có khi được che đậy dưới rất nhiều hình thức khác nhau như: thư tay, điện thoại, nhắc nhở, tránh không thực hiện trách nhiệm của mình hoặc có thái độ, việc làm bất hợp tác với cơ quan có thẩm quyền…

    – Hành vi “không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi” là hành vi thường được gọi là “bảo kê” của những người có trách nhiệm quản lý, đặc biệt là một số người làm việc tại chính quyền địa phương cơ sở, đã “lờ” đi hoặc thậm chí tiếp tay cho các hành vi vi phạm để từ đó nhận lợi ích từ những kẻ phạm pháp. Đây là hiện tượng hết sức nguy hại cần phải loại bỏ.

    II- NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA THAM NHŨNG

    Những nghiên cứu về tham nhũng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng cũng cho thấy tham nhũng là một hiện tượng xã hội gắn với sự xuất hiện chế độ tư hữu, sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước, quyền lực nhà nước và các quyền lực công khác. Tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ với những mức độ khác nhau.

    Cùng với sự phát triển của các hình thái nhà nước, đặc biệt là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, các quan hệ chính trị – kinh tế tạo ra những tiền đề khách quan quan trọng làm cho tham nhũng phát triển. Lợi ích là yếu tố chủ quan dẫn đến tham nhũng. Khi còn điều kiện để lợi ích kết hợp với sự lạm quyền của những người có chức vụ, quyền hạn thì vẫn còn có khả năng xảy ra tham nhũng.

    Có nhiều nguyên nhân và điều kiện phát sinh tham nhũng, trong đó có những nguyên nhân, điều kiện cơ bản sau:

    1. Nguyên nhân và điều kiện khách quan

    – Hệ thống chính trị chậm được đổi mới, trình độ quản lý còn lạc hậu, mức sống thấp, pháp luật chưa hoàn thiện, tạo ra các kẽ hở cho tệ tham nhũng nảy sinh và phát triển.

    – Cơ chế chính sách pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, việc phân cấp quản lí giữa Trung ương và địa phương, phân biệt quản lí nhà nước và quản lí sản xuất, kinh doanh có phần chưa rõ.

    Quá trình chuyển đổi đòi hỏi phải có thời gian, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để tiếp tục hoàn

    – Do ảnh hưởng của tập quán văn hoá như biếu và quà tặng bị lợi dụng để thực hiệ hành vi tham nhũng.

    2. Nguyên nhân và điều kiện chủ quan

    – Phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên bị suy thoái; công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên còn yếu kém

    Cải cách hành chính vẫn còn chậm và lúng túng, cơ chế “xin – cho” trong hoạt động công vụ còn phổ biến; thủ tục hành chính phiền hà, nặng nề, bất hợp lý

    – Sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong một số trường hợp chưa chặt chẽ, sâu sát, thường xuyên; xử lý chưa nghiêm đối với hành vi tham nhũng

    – Thiếu các công cụ phát hiện và xử lý tham nhũng hữu hiệu

    Những năm qua, hoạt động điều tra, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát đã thu được một số kết quả tích cực nhưng trên thực tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Về pháp luật, chúng ta chưa có những quy định cho phép các cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp đặc biệt để có thể phát hiện các hành vi tham nhũng nên hiệu quả phát hiện tham nhũng chưa cao.

      Tác hại về xã hội

      Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội, tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.

      LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY

    Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) nói chung, pháp luật về phòng chống tham nhũng nói riêng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Trong những năm qua, việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng được chú trọng và không ngừng nâng cao. Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật Phòng chống tham nhũng được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 8 thông qua, trong đó có quy định cụ thể các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lí các hành vi tham nhũng. Ngay sau luật này ra đời,chính phủ đã tiến hành chỉ đạo các cấp, các ngành quán triệt nội dung của Luật, đồng thời chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tập trung tuyên truyền, phổ biếp pháp luật về Phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Chính phủ ban hành nhiều quyết định, chỉ thị yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tiến hành các kế hoạch tuyên truyền, phổ bến pháp luật về phòng chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, học sinh, sinh viên và các tầng lớp khác trong xã hội. Chẳng hạn, ngày 02 tháng 12 năm 2009, Thủ tướng chính phủ ra Quyết định 137/2009/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng; chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 12 tháng 6 nam 2013 của Thủ tướng hính phủ về việc đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, đào tạo từ năm học 2013-2014…Chính phủ và các Bộ, ngành, các cơ quan từ trung ương đến địa phương đưa đưa công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng thành nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, thông qua nhiều hình thức, nhiều biện pháp. Việc phổ biến pháp luật Phòng chống tham nhũng đã tạo sự đồng thuận trong xã hội, góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả. Kết quả thực hiện phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng bước đầu đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận.

    Tuy nhiên, mặc dù đạt được một số kết quả, song qua thực tế cho thấy việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng vẫn còn nhiều hạn chế. việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng chưa đáp ứng được sự kì vọng của Nhà nước và xã hội. Nhiều địa phương, nhiều cơ quan chưa thấy được tầm quan trọng của việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, dẫn đến việc thực hiện còn mang tính đối phó, có lệ. Hình thức phổ biến chưa phong phú và linh hoạt, thời lượng tuyện truyền còn hạn chế, chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tế. Trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng còn mang tính lí thuyết, tuyên truyền suông. Chính vì vậy, chưa góp phần thay đổi lớn trong nhận thức và ý thức trong công tác phòng chống tham nhũng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới hiệu quả của công tác phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cũng như công tác phòng chống tham nhũng đạt kết quả chưa cao.

    KẾT LUẬN

    Từ khi ban hành vào năm 2005, Luật Phòng chống tham nhũng đã trải qua nhiều lần lần sửa đổi, bổ sung (cụ thể vào các năm 2007 và năm 2012 với mục đích làm cho những quy định của Luật phù hợp hơn với thực tiễn của đời sống xã hội.Nó tạo ra một cơ chế phòng, ngừa, phát hiện tham nhũng toàn diện và sâu rộng, mang tính phòng ngừa sớm trong xã hội, qua đó góp phần xây dựng một cơ chế quản lý nhà nước, quản lý xã hội “nói không với tham nhũng”, “không thể tham nhũng”, giảm thiểu các nguy cơ phát sinh tham nhũng hoặc dễ dàng phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý kịp thời đối với các hành vi có dấu hiệu tham nhũng. Tuy nhiên, để công tác phòng chống tham nhũng có hiệu quả, bên cạnh vai trò của Đảng, của Nhà nước cần có sự hành động chung tay tích cực của cả hệ thống chính trị, cơ quan, đoàn thể, ban ngành, đặc biệt là vai trò của quần cúng nhân dân. Với thực trạng tham nhũng hiện nay có thể xem tham nhũng là một thứ giặc cực kì nguy hiểm, cản trở nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và để chống lại loại giặc ” nội xâm” ấy, phải huy động sức mạnh của nhân dân. Để làm được điều đó, nhà nước ta cần tăng cường thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng thông qua nhiều hình thức như thông qua báo chí, thành lập tổ tư vấn pháp luật, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thống, pa-nô, áp phích, tranh cổ động, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật, lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị, đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở…. nhằm nâng hiểu biết của nhân dân đối với pháp luật về phòng, chống tham nhũng, đồng thời có ý thức tốt hơn trong việc thực hiện pháp luật và thực hiện các hoạt động tố cáo những hành vi tham nhũng, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.

    LÊ THỊ THANH TÂM

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sửa Bài Viết Tiếng Pháp (7): Văn Nghị Luận
  • Luyện Viết Tiếng Pháp Thôi!
  • 100 Chủ Đề Bài Luận Thuyết Phục
  • Cách Viết Bài Luận Thu Hút Vào Các Trường Hàng Đầu Nước Mỹ
  • Cấu Trúc Bài Tiểu Luận Như Thế Nào Được Gọi Là Hoàn Chỉnh?
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng trên website Hanoisoundstuff.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100