Đề Xuất 1/2023 # Thủ Tục Rút Gọn Trong Tố Tụng Dân Sự # Top 5 Like | Hanoisoundstuff.com

Đề Xuất 1/2023 # Thủ Tục Rút Gọn Trong Tố Tụng Dân Sự # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thủ Tục Rút Gọn Trong Tố Tụng Dân Sự mới nhất trên website Hanoisoundstuff.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

– Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này, không áp dụng để giải quyết việc dân sự;

– Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết các vụ án dân sự khi có đủ các điều kiện: Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, đủ cơ sở giải quyết Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài có thỏa thuận với đương sự ở Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản. Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới theo quy định tại khoản 3 Điều 317 của BLTTDS, làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để áp dụng theo thủ tục rút gọn thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

Bản án, quyết định được giải quyết theo thủ tục rút gọn được quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thủ tục phúc thẩm đối với những vụ án được xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn cũng được xây dựng theo hướng rút gọn, do một Thẩm phán tiến hành.

(Trích bài viết: “Những điểm mới cơ bản của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” của TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi, Tạp chí Kiểm sát số 5/2016).

Bài 7: Điểm mới về thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm

Kỳ sau (bài 9): Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng dân sự.

Khả Năng Áp Dụng Thủ Tục Rút Gọn Trong Tố Tụng Dân Sự Ở Việt Nam

Với những vụ án dân sự cần giải quyết có đặc điểm là tất cả các chứng cứ chứng minh sự thật đều rõ ràng, sự thật của vụ án dễ dàng được nhận biết hoặc chỉ sau một số hoạt động xác minh đơn giản thì nhu cầu đi tìm sự thật trên không còn đặt ra nữa mà vấn đề duy nhất còn lại là có sự phán xét nhân danh Nhà nước nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của các bên mà thôi. Đó chính là nhu cầu để xây dựng thủ tục rút gọn.

1. Khái niệm thủ tục tố tụng rút gọn

Thủ tục rút gọn, với chức năng là một quy trình tố tụng đảm bảo giải quyết nhanh gọn vụ án dân sự hơn so với quy trình tố tụng thông thường, có những đặc điểm đặc trưng sau:

Thứ nhất, về hình thức, thủ tục tố tụng rút gọn có thể là một thủ tục chung hoặc áp dụng riêng cho một loại quyết định cụ thể, ví dụ: “thủ tục ra lệnh thanh toán”, “thủ tục ra lệnh buộc làm một công việc” (Pháp, Đức, Mỹ, Nhật Bản, Nga, Đài Loan…).

Thứ hai, thủ tục tố tụng rút gọn có thể là một phần trong trình tự tố tụng thông thường được rút gọn hoặc là một trình tự tố tụng rút gọn bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường. Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp xây dựng những thủ tục xét xử nhanh để giải quyết một số tranh chấp mang tính đặc thù hoặc đơn giản bên cạnh thủ tục xét xử thông thường.

Thứ ba, thủ tục rút gọn giảm thiểu các yếu tố không cần thiết phù hợp với tính chất của loại vụ án dân sự được áp dụng. Những hoạt động tố tụng vốn là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động tìm kiếm và chứng minh sự thật khách quan ở thủ tục tố tụng thông thường đều có thể bị giản lược.

Thứ tư, bản án, quyết định của tòa án có giá trị chung thẩm. Điều này đảm bảo rằng vụ án dân sự sẽ không bị kéo dài về thời gian giải quyết, hạn chế được những thiệt hại không cần thiết cho xã hội.

Thứ năm, thủ tục rút gọn là một cơ chế mở mà các đương sự được quyền lựa chọn. Với những trường hợp thuộc phạm vi được xét xử theo thủ tục rút gọn, các đương sự vẫn có quyền lựa chọn được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục tố tụng thông thường. Bộ luật Tố tụng Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức cho phép chủ nợ được tự do lựa chọn giữa thủ tục tố tụng thông thường với thủ tục tố tụng rút gọn.

Từ đó chúng ta có thể đi đến khái niệm về thủ tục tố tụng rút gọn như sau: thủ tục tố tụng rút gọn là dạng đơn giản hóa của thủ tục xét xử thông thường, được sử dụng để giải quyết các vụ án dân sự có chung những đặc điểm là nhỏ, đơn giản, rõ ràng và có giá trị tranh chấp nhỏ. Phán quyết và quyết định của tòa án sử dụng thủ tục tố tụng rút gọn có thể có giá trị chung thẩm.

Có thể nhận thấy, sự phổ biến của thủ tục tố tụng rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự các nước cũng như những hiệu quả cả về kinh tế và xã hội mà nó mang lại. Ngoài Cộng hòa Pháp – một nước có thể coi là hình mẫu tiêu biểu của các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, thì Australia và một số nước châu Á có điều kiện gần gũi và tương đồng với Việt Nam như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore… đều có những quy định về thủ tục tố tụng rút gọn này. Thủ tục rút gọn tiết kiệm thời gian giải quyết vụ án hơn so với thủ tục tố tụng thông thường. Đây là hệ quả tất yếu của việc giản lược các hoạt động tố tụng và cũng là một trong những mục tiêu đầu tiên mà thủ tục rút gọn hướng tới.

Ngoài ra, chi phí dành cho việc giải quyết vụ án thấp. Đây cũng là mục tiêu của thủ tục rút gọn và là kết quả của việc giảm bớt các yếu tố ít quan trọng trong thủ tục tố tụng thông thường. Chi phí nói đến ở đây bao gồm cả chi phí từ phía các đương sự và đối với Nhà nước. Án phí, lệ phí và các chi phí tố tụng được giảm nhẹ cũng góp phần nâng cao khả năng tiếp cận công lý của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Chi phí từ phía Nhà nước cho hoạt động tố tụng bao gồm các chi phí về tài chính và nhân lực. Chi phí tố tụng cho thủ tục tố tụng rút gọn chỉ bằng 1/3 chi phí giải quyết việc cùng loại theo thủ tục tố tụng thông thường. Trường hợp quyết định rút gọn bị kháng cáo, thì yêu cầu thanh toán nợ được chuyển sang giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường và được trừ đi 1/3 chi phí tố tụng do đã nộp trước đây. Theo ước tính thì ở Cộng hòa Liên bang Đức có đến 90% số đơn yêu cầu thanh toán nợ theo thủ tục tố tụng rút gọn được thi hành án ngay, chỉ có 10% quyết định bị kháng cáo. Hàng năm, ở Đức có hàng triệu đơn yêu cầu thanh toán nợ được giải quyết theo thủ tục này.

3. Phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn

Mặc dù việc áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn xuất phát từ yếu tố đơn giản, rõ ràng của vụ án nhưng không phải tất cả các trường hợp như vậy đều có thể được áp dụng thủ tục rút gọn.

Điều này xuất phát từ bản chất của việc quy định về thủ tục rút gọn. Việc xét xử nhanh chóng các vụ án có cùng một thuộc tính là sự thật rõ ràng, đơn giản mà không cần phải qua tất cả các khâu của tố tụng thông thường thực chất là sự cân đối về chi phí cơ hội của các nguồn lực xã hội. Lý thuyết về chi phí cơ hội chỉ ra rằng, nếu một lượng nguồn lực xã hội với nghĩa là các khoản tài chính, nhân lực, thời gian… được sử dụng vào một mục đích đem lại kết quả có giá trị là A mà cùng với lượng nguồn lực đó nếu sử dụng vào mục đích khác đem lại giá trị là A+ lớn hơn A, thì như vậy là nguồn lực này đã không được sử dụng một cách hiệu quả nhất; còn nếu trong trường hợp A có giá trị nhỏ hơn lượng nguồn lực đã bỏ ra thì đấy là sự lãng phí nguồn lực xã hội. Trong việc xây dựng thủ tục rút gọn, sự so sánh giữa một bên là những lợi ích không lớn cần phải bảo vệ và một bên là những hao tổn, chi phí của Nhà nước và đương sự nếu việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều cấp xét xử. Chính vì thế, chỉ với những tranh chấp dân sự có giá trị tranh chấp nhỏ mới có thể được áp dụng xét xử theo thủ tục rút gọn.

Như vậy, các trường hợp không cần phải áp dụng thủ tục xét xử thông thường mà có thể lựa chọn áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn là các vụ án không chỉ đảm bảo yếu tố đơn giản, sự thật rõ ràng, mà còn phải có giá trị tranh chấp nhỏ. Đơn giản về tình tiết, về chứng cứ chứng minh, về xác định quyền và nghĩa vụ các bên. Sự thật rõ ràng là việc tình tiết tranh chấp do hai bên đương sự trình bày về cơ bản là thống nhất, chứng cứ đưa ra tương đối đáng tin cậy, có sức mạnh chứng minh, không cần tòa án tiến hành công việc điều tra, thu thập chứng cứ mà vẫn có thể làm rõ được sự thật, xác định rõ được trách nhiệm, hoặc sau khi tiến hành một vài công tác điều tra thì có thể làm rõ được sự thật của vụ án.

Sự thật rõ ràng còn thể hiện qua việc xác định quyền lợi, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ dân sự đang tranh chấp tương đối dễ dàng, đồng thời, quan hệ pháp luật về việc giải quyết tranh chấp đó cũng đã được quy định tương đối rõ.

Giá trị tranh chấp nhỏ nghĩa là hai bên không có bất đồng lớn về nguyên tắc trong tranh chấp đúng sai, trách nhiệm phải gánh chịu trong vụ án cũng như về các khoản chi phí tố tụng.

Tuy nhiên, để áp dụng ở Việt Nam thủ tục tố tụng rút gọn với tư cách là một dạng đơn giản của thủ tục tố tụng thông thường khi lược bỏ rất nhiều yếu tố: từ thời hạn giải quyết vụ án đến Hội đồng xét xử, cũng như các giai đoạn tiền tố tụng thì cần phải xét đến tính tương thích của nó với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự.

4. Thủ tục tố tụng rút gọn trong sự phát triển tố tụng dân sự Việt Nam

Khi nghiên cứu về lịch sử pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam, có nhiều ý kiến cho rằng đã có sự tồn tại của các yếu tố tiền đề cho thủ tục tố tụng rút gọn.

Trước hết là các quy định trong các sắc lệnh về tổ chức và thẩm quyền của tòa án nhân dân trong thời gian đầu thành lập nước.

Cùng với Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 quy định về thẩm quyền độc lập của thẩm phán trong việc ra phán quyết đối với những loại việc nhỏ, giản đơn, Sắc lệnh số 51/SL “Ấn định thẩm quyền các tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong tòa án” ngày 17/4/1946 tại Điều 6 quy định quyền xét xử chung thẩm về dân sự và thương sự của toà án sơ cấp gồm những việc kiện dân sự, thương sự về động sản mà giá ngạch do nguyên đơn định không quá 150đ và những việc kiện về các khoản lệ phí đã phát sinh ra trước toà án ấy không cứ giá ngạch nào. Tòa án đệ nhị cấp cũng có quyền xét xử chung thẩm với những việc kiện về bất động sản mà giá ngạch theo thời giá hôm khởi tố hay theo văn tự không quá 150đ, những việc kiện về động sản mà giá ngạch trên 450đ nhưng dưới 750đ.

Sắc lệnh số 85/SL “Về cải cách bộ máy tư pháp và Luật tố tụng” ngày 22/5/1950 quy định tại Điều 7: Ban Tư pháp xã có quyền xử chung thẩm những việc đòi bồi thường hoặc bồi hoàn từ 300đ trở xuống do người bị thiệt hại thỉnh cầu trong đơn kiện hay chậm nhất lúc việc vi cảnh đem ra xử.

Có thể thấy, việc xác định các vụ án được xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm theo Sắc lệnh số 51/SL không phải là thủ tục rút gọn. Xác định giá ngạch của vụ án để phân cấp giải quyết chỉ mang tính chất tổ chức trong hoạt động tư pháp mà thôi. Thủ tục rút gọn không chỉ được hiểu là xét xử một cấp mà còn được hiểu là thủ tục áp dụng chung cho các vụ án có cùng tính chất, đặc điểm. Việc quy định về thủ tục rút gọn cũng phải đảm bảo quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp cho đương sự, đảm bảo quyền được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức. Việc quy định quyền xét xử chung thẩm của tòa án, nhưng không quy định quyền lựa chọn thủ tục tố tụng của người dân vô hình trung đã làm giảm khả năng tiếp cận công lý của công dân.

Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 Điều 12 quy định: “Khi sơ thẩm, toà án nhân dân gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân; trường hợp xử những vụ án nhỏ, giản đơn và không quan trọng thì toà án nhân dân có thể xử không có hội thẩm nhân dân” và Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao và những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp dưới mà Toà án nhân dân tối cao lấy lên để xử (Điều 21).

Tiếp thu quy định trên của Luật Tổ chức tòa án nhân dân, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định tại khoản 3 Điều 11 về Thẩm quyền của các toà án các cấp quy định: trong trường hợp đặc biệt, Toà án nhân dân tối cao giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án cấp dưới mà Toà án nhân dân tối cao lấy lên để giải quyết. Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc sơ thẩm đồng thời chung thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân.

Như vậy, bắt đầu từ Luật Tổ chức tòa án nhân dân 1960, pháp luật tố tụng dân sự đã xét đến việc xét xử những vụ án đơn giản, không quan trọng với việc tối giản thành phần Hội đồng xét xử và vụ án chỉ được giải quyết bởi một thẩm phán, đồng thời, việc xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm là thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, do không có các căn cứ để xác định khả năng được áp dụng thủ tục này nên tất cả các vụ án sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao và những vụ án mà Tòa án nhân dân tối cao lấy lên để giải quyết dù có giá trị tranh chấp lớn, phức tạp hay đơn giản đều chỉ được xét xử một lần. Quy chế này làm hạn chế khả năng kháng cáo của công dân và tổ chức khi không đồng ý với kết quả giải quyết vụ án. Điều đó cũng có nghĩa là làm tăng khả năng gây ra các thiệt hại về tài sản và nhân thân của công dân và các tổ chức trong xã hội.

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự tại tòa án nhân dân, việc áp dụng các quy định về xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm của các tòa án nhân dân hầu như không có.

Hiện nay, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 thì vụ án dân sự (có tranh chấp) và việc dân sự (không có tranh chấp) được giải quyết theo hai trình tự, thủ tục khác nhau. Sự phân định hai thủ tục này ở chỗ vụ việc dân sự có yếu tố tranh chấp hay không. Tuy nhiên, yếu tố tranh chấp không phải là cách xác định đối tượng của thủ tục rút gọn bởi lẽ, để xác định việc kết hôn trái pháp luật về tuổi kết hôn hay trái với quy định về mối quan hệ huyết thống trong nhiều trường hợp là rất phức tạp. Trong khi đó, những vụ án đòi nợ với chứng cứ rõ ràng, có sự xác nhận của hai bên và có chứng thực của Ủy ban nhân dân, hay các hóa đơn, biên lai có nguồn gốc rõ ràng, chứng minh dễ dàng thì lại phải trải qua nhiều khâu thủ tục rườm rà với thời gian dài và khả năng bị kéo dài do kháng cáo lên cấp xét xử phúc thẩm.

Như vậy, xem xét trong lịch sử phát triển pháp luật tố tụng dân sự ở nước ta, mặc dù có nhiều quy định thể hiện tính rút gọn thủ tục tố tụng trong việc giải quyết một số loại án nhất định nhưng nhìn chung, đây mới chỉ là sự giản lược ở một số yếu tố nhất định mà chưa có sự quy định một cách tổng thể về một thủ tục đặc biệt dành cho những vụ án dân sự đơn giản, rõ ràng và có giá trị tranh chấp nhỏ.

Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp và thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, tại Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII, Đảng ta đã chỉ rõ: cần phải “nghiên cứu áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng”. Dù vậy, cho đến nay, thủ tục rút gọn mới được áp dụng trong tố tụng hình sự chứ chưa được áp dụng trong tố tụng dân sự.

Những lý do ngăn cản sự tồn tại của thủ tục tố tụng rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự có thể kể đến là sự không phù hợp với các nguyên tắc chung của pháp luật tố tụng dân sự, sự không hiệu quả của các thủ tục có mang nhân tố rút gọn đã từng tồn tại trong lịch sử phát triển pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

5. Khả năng áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn ở Việt Nam

Một trong những yếu tố ngăn cản việc áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2004 là sự không tương thích giữa cơ chế giải quyết của thủ tục rút gọn và các nguyên tắc cơ bản của BLTTDS.

– Nguyên tắc xét xử tập thể và có hội thẩm nhân dân tham gia

Về mặt tổ chức hoạt động xét xử, các tranh chấp dân sự phải tuân theo các nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp, BLTTDS. Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và có hội thẩm nhân dân tham gia được quy định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và được cụ thể hóa trong BLTTDS tại Điều 11 và Điều 14.

Toà án xét xử tập thể có nghĩa là việc xét xử bất cứ một vụ án nào, theo trình tự nào cũng do một Hội đồng thực hiện. Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) ở mỗi cấp xét xử đối với từng loại vụ án được quy định tại các điều tương ứng trong pháp luật tố tụng: Thành phần HĐXX sơ thẩm (Điều 52 BLTTDS); Thành phần HĐXX phúc thẩm (Điều 53 BLTTDS); thành phần Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 54 BLTTDS). Việc xét xử của toà án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia, việc xét xử của toà án quân sự có hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán (Điều 129 Hiến pháp năm 1992; Điều 4 Luật Tổ chức tòa án nhân dân. Khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán cần được hiểu là khi xét xử bất kỳ một vụ án nào thuộc thẩm quyền của toà án mà có hội thẩm tham gia, thì hội thẩm và thẩm phán có quyền ngang nhau trong việc giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, không phân biệt vấn đề đó là về mặt tố tụng hay về mặt nội dung.

Nguyên tắc có hội thẩm tham gia được cụ thể hóa trong Điều 52 BLTTDS về thành phần HĐXX sơ thẩm, theo đó, HĐXX sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân, trong trường hợp đặc biệt có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân. Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân chủ và tính nhân dân sâu sắc của Nhà nước ta, đó là tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của tòa án nhân dân các cấp.

Như vậy, xét xử tập thể và thành phần của HĐXX có hội thẩm nhân dân tham gia phải được áp dụng cho tất cả các tranh chấp dân sự. Chính vì thế, có quan điểm cho rằng, nếu quy định việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng rút gọn bởi một thẩm phán duy nhất sẽ là sự vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc Hiến định và các nguyên tắc cơ bản của BLTTDS.

Tuy nhiên, nhìn vào lịch sử tố tụng dân sự Việt Nam có thể nhận thấy, đã có nhiều sự thay đổi trong quan niệm về HĐXX. Trước đây, theo quy định của các pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động thì tất cả các vụ tranh chấp đều được xét xử ở tòa án cấp sơ thẩm với HĐXX gồm cả thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Đến nay, BLTTDS 2004 đã quy định thêm một loại thủ tục đặc thù riêng để giải quyết việc dân sự. Thủ tục này quy định một thẩm phán giải quyết, trong trường hợp có yếu tố nước ngoài thì là Hội đồng gồm ba thẩm phán. Như vậy có thể thấy, việc sửa đổi các quy định của pháp luật nhằm đáp ứng và phù hợp với các cam kết quốc tế, phù hợp với thực tiễn đang được Nhà nước ta quan tâm.

Trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục thông thường quy định trong BLTTDS 2004, hòa giải là một thủ tục bắt buộc, trừ một số trường hợp đặc biệt. Thủ tục này do một thẩm phán phụ trách và nếu hai bên đi đến hòa giải thành thì thẩm phán ra quyết định công nhận hòa giải thành, quyết định này cũng có giá trị chung thẩm mà không cần phải có sự tham gia của hội thẩm nhân dân.

Với quy định rõ ràng về thủ tục tố tụng rút gọn áp dụng cho các vụ án dân sự trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng, các nhà làm luật đã chấp nhận sự đột phá để cải cách pháp luật tố tụng dân sự cho phù hợp với nhu cầu của thực tiễn, đồng thời, mở ra cơ hội để áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn cho những loại vụ án dân sự khác.

– Nguyên tắc hai cấp xét xử

Nguyên tắc hai cấp xét xử được quy định tại Điều 17 của BLTTDS, theo đó, bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật quy định thì có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

Mục tiêu chính của quy định về thủ tục tố tụng rút gọn là tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả tòa án và các đương sự, nên nếu chỉ quy định thủ tục tố tụng rút gọn ở cấp sơ thẩm và bản án, quyết định được ban hành không có giá trị chung thẩm thì mục đích này gần như không đạt được. Hầu hết các nước đều có quy định bản án, quyết định được ban hành khi xét xử bằng thủ tục tố tụng rút gọn đều có giá trị chung thẩm, tức là hạn chế quyền kháng cáo của đương sự. Trong điều kiện hiện nay, đối với những loại vụ kiện có giá ngạch thấp, cũng cần phải lựa chọn giữa một bên là những lợi ích không lớn cần phải bảo vệ triệt để và một bên là những hao tổn về thời gian, sức lực và những chi phí tốn kém của nhà nước và các đương sự khi vụ kiện phải trải qua nhiều cấp xét xử hơn. Trong nền kinh tế thị trường, khi mà ngành tòa án đang đối diện với sự gia tăng của các số lượng các án kiện dân sự, kinh tế, lao động mà thời gian đối với từng cá nhân và xã hội ngày càng quý giá thì việc áp dụng cơ chế xét xử một lần đối với các vụ án dân sự có giá ngạch thấp và đơn giản là hoàn toàn cần thiết. Trong điều kiện Việt nam hiện nay, việc quy định một cấp xét xử đối với một số vụ án có tính chất đặc thù là có thể thực hiện được về mặt kỹ thuật lập pháp.

Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt ra vấn đề phải bảo vệ quyền và lợi ích của công dân cả về tài sản và nhân thân, vì thế, việc thiết lập cơ chế giải quyết nhanh gọn, hợp lý, tiết kiệm thời gian và công sức của cả các đương sự lẫn Nhà nước là nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc xây dựng nền tư pháp hiện đại, hiệu quả, công bằng. Điều đó cũng phù hợp nhu cầu của công tác cải cách tư pháp hướng tới lợi ích của người dân và phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

SOURCE: TẠP CHÍ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT, SỐ 12/2011, TR. 37- 42

<

Quyền Phản Tố Của Bị Đơn Trong Tố Tụng Dân Sự

Quyền yêu cầu phản tố là một quyền của bị đơn (người bị kiện) trong vụ án dân sự, theo đó bị đơn có quyền kiện ngược lại nguyên đơn (người kiện) nếu như yêu cầu phản tố của bị đơn đáp ứng các điều kiện của quy định pháp luật.

Yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, về thời điểm: So với quy định BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. BLTTDS năm 2015, yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ được chấp nhận “trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” (Khoản 3 Điều 200). Quy định này giúp cho việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn của Tòa án được chủ động và hợp lý hơn, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án.

Thứ hai, về mặt nội dung:

Yêu cầu phản tố chỉ được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 200, Bộ luật TTDS 2015:

: A có chiếc xe ô tô thuộc sở hữu riêng đã bán cho C, nhưng nói với con (B là con của A) là cho C thuê mỗi tháng năm triệu đồng. Sau đó A chết, B khởi kiện yêu cầu C phải thanh toán tiền thuê xe trong một năm qua là sáu mươi triệu đồng. C có yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án công nhận quyền sở hữu xe ô tô và có tranh chấp. Nếu Toà án chấp nhận yêu cầu phản tố của C, thì dẫn đến không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của B đòi C thanh toán tiền thuê xe ô tô.” Trường hợp này yêu cầu phản tố của C đã loại trừ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn B.

Ví dụ: “Chị M khởi kiện yêu cầu anh N phải trợ cấp nuôi con P một tháng ba trăm ngàn đồng. Anh N có yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án xác định P không phải là con của anh”. Trường hợp này, yêu cầu của anh N không bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của chị M cũng không làm triệt tiêu yêu cầu của chị M. Yêu cầu của chị M vẫn chính đáng nếu như P là con anh N, tuy nhiên việc giải quyết yêu cầu này sẽ dẫn tới kết luận cuối cùng về việc giải quyết yêu cầu của chị M.

Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về điều khoản này, nên có thể dựa theo tinh thần Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP.

Trên thực tế, các yêu cầu của nguyên đơn có thể phức tạp hơn, và việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn cũng có thể trên nhiều phương diện, có thể thuộc đồng thời 3 trường hợp trên hoặc chỉ thuộc một trường hợp,… và việc chấp nhận yêu cầu phản tố một phần dựa trên quan điểm của thẩm phán giải quyết vụ việc.

Thứ ba, về mặt trình tự, thủ tục

Việc thực hiện quyền phản tố của bị đơn phải tuân thủ hình thức như khởi kiện của một vụ việc. Có nghĩa là bị đơn phải soạn đơn phản tố bằng văn bản và gửi tới Tòa án, sau đó bị đơn sẽ phải thực hiện nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí như nguyên đơn. Thời hạn chuẩn bị xét xử sẽ được tính lại kể từ ngày bị đơn nộp tạm ứng án phí hoặc trong trường hợp bị đơn được miễn án phí thì tính từ ngày Tòa án nhận được đơn phản tố.

Thứ tư, hậu quả pháp lý của phản tố. Trường hợp yêu cầu phản tố không được chấp nhận:

Khoản 6 Điều 72 BLTTDS quy định: ” Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác”. Như vậy, trường hợp yêu cầu phản tố của bị đơn không đử các điều kiện quy định và từ đó, không được Tòa án chấp thuận thì bị đơn có quyền khởi kiện một vụ án khác đối với yêu cầu phản tố của mình.

– Nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm.Đồng thời, trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn được trình bày yêu cầu phản tố; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án.

– Trường hợp đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, theo khoản 2, Điều 217, Bộ luật TTDS 2015:

+ Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

– Nếu bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt lần hai mà không có người đại diện tham gia phiên tòa sơ thẩm thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật theo điểm c Khoản 2 Điều 227 BLTTDS 2015.

– Trong phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu phản tố và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến theo Điểm b, Khoản 1, Điều 248, BLTTDS 2015. Đồng thời, trong bản án sơ thẩm, nội dung vụ án và nhận định của Tòa án phải ghi yêu cầu phản tố của bị đơn.

Mẫu Giấy Ủy Quyền Tham Gia Tố Tụng Dân Sự

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———-O0O———–

GIẤY UỶ QUYỀN THAM GIA TỐ TỤNG

Kính gửi:      UBND XÃ (PHƯỜNG)………………………………….

                                      TOÀ ÁN NHÂN DÂN …………………………………….

Tôi là: ……………………………….. Sinh ngày: ……………………..

CMND số:………………………….. Ngày cấp:………………………. Nơi cấp:…………………………

Nơi đăng ký HKTT: …………………………………………………………………………………………….

Chỗở hiện tại: …………………………………………………………………………………………………….

trú tại …………………………………………………………………………………………………………………………………….

(Theo Giấy triệu tập số: …………………của Tòa án nhân dân …………..ngày…… tháng…….. năm……..).

Vì lý do……………………………………………………………………………………………………………………….

vì vậy tôi làm đơn này với mục đích là ủy quyền toàn bộ việc giải quyết tranh chấp cho:

Ông (Bà):………………………………. Sinh ngày: ………………………….

CMND số:………………………….. Ngày cấp:………………………. Nơi cấp:…………………………

Nơi đăng ký HKTT: …………………………………………………………………………………………….

Chỗở hiện tại: …………………………………………………………………………………………………….

Kể từ khi ký giấy ủy quyền này, ông (bà)…………………………………………….được toàn quyền thay mặt tôi để tham gia giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật hiện hành.

Tôi cam kết sẽ không có bất cứ thắc mắc hay khiếu kiện gì nếu sai xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Người được ủy quyền

(Kývà ghi rõ họ tên)

………..,ngày …….tháng ………năm ………….

Người ủy quyền

 (Kývà ghi rõ họ tên) 

Người được ủy quyền tham gia tố tụng có bắt buộc phải ký tên vào giấy ủy quyền ?

Nội dung vụ việc như sau: Ông A là bị đơn trong vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản do Tòa án nhân dân huyện X thụ lý giải quyết. Ngày 07/8/2019, ông A nộp cho Tòa án huyện X giấy ủy quyền có nội dung ông A ủy quyền cho ông B thay mặt ông A tham gia tố tụng trong vụ án và có toàn quyền quyết định mọi vấn đề trong vụ án. Sau khi xem xét giấy ủy quyền, Thẩm phán được phân công giải quyết cho rằng giấy ủy quyền không hợp lệ, do ông B là người được ủy quyền không có ký tên vào giấy ủy quyền. Xung quanh vấn đề này hiện có hai quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng:

Về hình thức, giấy ủy quyền khác với hợp đồng ủy quyền. Theo quy định tại Điều 562 BLDS năm 2015 thì “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Như vậy, hợp đồng ủy quyền đòi hỏi phải có sự tham gia ký kết của cả bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền. Việc lập hợp đồng ủy quyền đòi hỏi bên nhận ủy quyền phải đồng ý và có giá trị bắt buộc phải thực hiện các công việc đã nêu trong hợp đồng. Còn giấy ủy quyền hiện nay pháp luật không có quy định cụ thể. Cho nên giấy ủy quyền có thể hiểu chỉ là văn bản thể hiện hành vi pháp lý đơn phương của một người cho một người khác đại diện mình thực hiện một hoặc nhiều công việc cụ thể nào đó. Do đó, khi ủy quyền, không cần có sự tham gia của bên nhận ủy quyền. Việc lập giấy ủy quyền không đòi hỏi bên nhận ủy quyền phải đồng ý và không có giá trị bắt buộc bên nhận ủy quyền phải thực hiện các công việc ghi trong giấy ủy quyền. Cho nên không bắt buộc ông B phải ký tên vào giấy ủy quyền nên giấy ủy quyền của ông A là hoàn toàn hợp lệ.

Quan điểm thứ hai cho rằng:

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thủ Tục Rút Gọn Trong Tố Tụng Dân Sự trên website Hanoisoundstuff.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!