Đề Xuất 2/2023 # Mẫu Đơn Phản Tố Trong Tố Tụng # Top 7 Like | Hanoisoundstuff.com

Đề Xuất 2/2023 # Mẫu Đơn Phản Tố Trong Tố Tụng # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Mẫu Đơn Phản Tố Trong Tố Tụng mới nhất trên website Hanoisoundstuff.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc chúng tôi ngày … tháng …. Năm 2018 ĐƠN PHẢN TỐ

Kính gửi: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, TP. HCM

NGƯỜI PHẢN TỐ:

Họ tên :

Sinh năm :

CCCD số :

Địa chỉ thường trú :

Tôi là bị đơn trong vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo thông báo thụ lý vụ án số: 186/2017/TB-TLVA ngày 05/10/2017 của Tòa án nhân dân quận 11, Tp.HCM.

NGƯỜI BỊ PHẢN TỐ:

Họ tên :

Sinh năm : 1948

Địa chỉ thường trú :

Là nguyên đơn trong vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo thông báo thụ lý vụ án số: 186/2017/TB-TLVA ngày 05/10/2017 của Tòa án nhân dân quận 11, Tp.HCM

Ngày 05 tháng 10 năm 2017 Tòa án nhân dân quận 11, chúng tôi có thông báo về việc đã thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thu Hồng, sinh năm 1948 nội dung vụ kiện và yêu cầu của bà Hồng là buộc tôi cùng gia đình rời khỏi và bàn giao căn nhà số ……………………………………..

Tôi và bà Nguyễn Thị Thu Hồng có mối quan hệ là mẹ con ruột với nhau. Bà Hồng là chủ sở hữu nhà đất tọa lạc tại địa chỉ: …………………………………… GCN QSDĐ hồ sơ gốc số: 2874/2008/ chúng tôi do UBND quận 11 cấp ngày 01/8/2008 do bà Hồng đứng tên.

Trước khi thực hiện xây dựng, sửa chữa căn nhà đang tranh chấp, thì bà Hồng là mẹ ruột của tôi có đồng ý cho tôi được phép xây dựng, sửa chữa nhà ở riêng trên phần diện tích thuộc quyền sở hữu của bà Hồng để tôi ổn định nơi ở, do mối là mẹ con ruột, tin tưởng nhau nên không lập giấy tờ gì về việc đồng ý trên. Do bà Hồng là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khi lập hợp đồng thi công xây dựng công trình nhà ở trên với công ty TNHH TMDVXD VÕ CÔI thì bà Hồng đứng tên, nhưng người ký hợp đồng là tôi ký chứ không phải bà Hồng, vì tôi là người bỏ tiền và chi phí cho việc xây dựng, sửa chữa nhà nêu trên.

Hơn nữa, chi phí trong quá trình xây dựng căn nhà nêu trên do tôi và con là ông Nguyễn Bá Phúc đầu tư bỏ tiền ra; tất cả các phiếu thu, phiếu giao nhận hàng, hợp đồng kinh tế ký kết ngày ngày 06/12/2014 và Hợp đồng kinh tế ngày 08/1/2015, phiếu tạm ứng Công ty TNHH VÕ CÔI .. đều do tôi và ông Phúc ký tên, đóng tiền chứ không phải bà Nguyễn Thị Thu Hồng. Tổng chi phí đầu tư hoàn thiện căn nhà là: 1.400.000.000đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng).

Việc bà Hồng yêu cầu cả gia đình tôi ra khỏi nhà và bàn giao lại căn nhà …………………………..đã ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống gia đình tôi, và gây thiệt hại rất lớn vì tôi đã bỏ ra số tiền rất lớn để xây dựng, sửa chữa căn nhà trên. Vì vậy chúng tôi không đồng ý với yêu cầu trên của bà Hồng. Tuy nhiên nếu chúng tôi bàn giao lại căn nhà nêu trên thì chúng tôi yêu cầu bà Hồng phải hoàn trả lại số tiền: 1.400.000.000đồng chi phí mà tôi đã đầu tư bỏ ra xây dựng, sửa chữa căn nhà nêu trên và tiền hỗ trợ để chúng tôi tìm nơi ở mới.

Nay bằng đơn phản tố này, tôi yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho tôi yêu cầu sau:

-Yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu Hồng hoàn trả lại cho tôi số tiền: 1.047.560.690 đồng (một tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu, năm trăm sáu mươi nghìn, sáu trăm chín mươi đồng) chi phí từ hợp đồng thi công xây dựng công trình ngày 12/8/2014.

-Yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu Hồng hoàn trả lại cho tôi số tiền: 179.630.635 đồng (một trăm bảy mươi chín triệu, sáu trăm ba mươi nghìn sáu trăm ba mươi lăm đồng) từ 02 hợp đồng kinh tế ngày 08/1/2015 và hợp đồng kinh tế ngày 06/12/2014, mua sắm vật liệu xây dựng tại cửa hàng Tân Hoàng Tuấn (có phiếu giao nhận hàng), tiền tạm ứng của Công ty TNHH TM XD Võ Côi ngày 18/5/2015, chi phí mua bán vật liệu xây dựng ngày 08/12/2014 …; (tất cả có trong hóa đơn, chứng từ kèm theo đơn phản tố). Ngoài ra còn có các chi phí xây dựng, sửa chữa phát sinh sau này mà không có hóa đơn chứng từ như làm cổng sắt, hàng rào bằng sắt, ban công …với chi phí 140.000.000đ (một trăm bốn mươi triệu đồng).

-Nếu tôi bàn giao lại nhà nêu trên cho bà Hồng, thì tôi yêu cầu bà phải trả một khoản tiền hỗ trợ: 600.000.000đồng (sáu trăm triệu đồng) để tôi có chi phí tìm nơi ở mới và ổn định cuộc sống với gia đình.

-Tổng cộng bà Hồng phải hoàn trả cho tôi số tiền là: 2.000.000.000đồng (hai tỷ đồng).

-Khi nào bà Hồng hoàn trả lại đủ số tiền trên, thì chúng tôi sẽ bàn giao trả lại căn nhà số:………….., chúng tôi cho bà Hồng.

Kính mong quý Tòa án xem xét giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tôi.

Trân trọng cảm ơn!

Tài liệu kèm theo:

– Hợp đồng thi công ngày 18/8/2014 (bản photo);

– Hợp đồng kinh tế ngày 06/12/2014(bản photo);

– Hợp đồng kinh tế ngày 08/1/2015(bản photo);

– Phiếu giao nhận hàng của Công ty Tân Hoàng Tuấn ngày 16/7/2015; ngày 23/7/2015; ngày 28/7/2015; ngày 30/7/2015; ngày 03/8/2015; ngày 08/8/2015; ngày 13/8/2015; ngày 16/8/2015; ngày 18/8/2015(bản photo);

– Hóa đơn bán lẻ số: 001279 ngày 08/12/2014(bản photo);

– Biên nhận ngày 19/5/2015(bản photo);

– Phiếu tạm ứng ngày 18/5/2015(bản photo);

– Phiếu thu số: 0004317 ngày 20/1/2015 (bản photo);

– CMND + HK của tôi ( bản sao y)

– GCN QSDĐ của bà Nguyễn Thị Thu Hồng cấp ngày 01/8/2008 ( bản photo)

Người phản tố

Mẫu Đơn Phản Tố Trong Vụ Án Dân Sự

Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Thời hạn phản tố

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án, bị đơn phải nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu phản tố.

Bị đơn được phép đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Thủ tục xử lý yêu cầu phản tố của bị đơn được thực hiện tương tự như đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Lưu ý, nếu yêu cầu phản tố của bị đơn không được Tòa án chấp nhận giải quyết, xét xử trong cùng một vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện tại vụ án khác theo quy định tại khoản 6 Điều 172 BLTTDS 2015.

Chi phí thuê luật sư

Khi thuê luật sư tham gia giải quyết vụ án chi phí sẽ khác nhau:

Phí cố định: sẽ được thanh toán theo từng tiến độ giải quyết vụ việc.

Phí kết quả: thanh toán theo mức độ kết quả mà luật sư thực hiện được.

Bài viết trên là nội dung về mẫu đơn phản tố trong vụ án dân sự của chúng tôi. Trường hợp quý bạn đọc có thắc mắc, chưa hiểu về thời hạn phản tố, nhu cầu tư vấn luật dân sự vui lòng liên hệ với chúng tôi qua HOTLINE 1900.63.63.87 để được TƯ VẤN chi tiết. Xin cảm ơn.

☆ ☆ ☆ ☆ ☆

Scores: 4.8 (19 votes)

Với 9 năm kinh nghiệm hành nghề “Luật sư tư vấn pháp luật”, “Luật sư bào chữa”, “tham gia tố tụng”, “tranh tụng”, “lặp hồ sơ khởi kiện”…. Tôi đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý của khách hàng. Bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp cho nhiều có nhân, gia đình, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Thủ Tục Rút Gọn Trong Tố Tụng Dân Sự

– Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này, không áp dụng để giải quyết việc dân sự;

– Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết các vụ án dân sự khi có đủ các điều kiện: Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, đủ cơ sở giải quyết Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài có thỏa thuận với đương sự ở Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản. Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới theo quy định tại khoản 3 Điều 317 của BLTTDS, làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để áp dụng theo thủ tục rút gọn thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

Bản án, quyết định được giải quyết theo thủ tục rút gọn được quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thủ tục phúc thẩm đối với những vụ án được xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn cũng được xây dựng theo hướng rút gọn, do một Thẩm phán tiến hành.

(Trích bài viết: “Những điểm mới cơ bản của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” của TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi, Tạp chí Kiểm sát số 5/2016).

Bài 7: Điểm mới về thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm

Kỳ sau (bài 9): Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng dân sự.

Thủ Tục Xét Xử Sơ Thẩm Trong Tố Tụng Hình Sự Việt Nam

Th.S. Đinh Văn Quế – Nguyên Chánh toà hình sự, TANDTC 

Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ở Việt Nam là các Toà án cấp huyện, Toà án cấp tỉnh, Toà án quân sự khu vực, Toà án quân sự cấp quân khu.

Theo pháp luật tố tụng Việt Nam hiện hành, thì xét xử sơ thẩm được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra, truy tố thu thập trong quá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận chất vấn những điều mà tại Cơ quan điều tra họ không có điều kiện thực hiện. Xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao của quyền tư pháp, tại phiên toà quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tồ tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất; những lo âu của bị cáo, người bị hại và của những người tham gia tố tụng khác được giải toả tại phiên toà.Tâm lý nói chung đối với những người tham gia tổ tụng là mong muốn vụ án nhanh được đưa ra xét xử để họ biết được Toà án sẽ phán quyết như thế nào.

Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng mà ở đó đòi hỏi những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tập trung trí tuệ, xử lý các tình huống một cách mau lẹ, các lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà phải có sức thuyết phục, nhưng đồng thời lại phải tuân theo những quy định của pháp luật thông qua phiên toà có thể đánh giá được trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán, của Hội thẩm, của Kiểm sát viên, của Luật sư và những người tham gia tố tụng tố tụng thác. Cũng thông qua phiên toà mà Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư nâng cao được trình độ nghiệp vụ năng lực công tác và kỹ năng nghề nghiệp; thông qua phiên toà, những người dự phiên toà hiểu biết thêm về pháp luật, củng cố thêm lòng tin vào Toà án. Vì vậy, việc tổ chức phiên toà sơ thẩm tốt có tác dụng to lớn không chỉ đối với một vụ án cụ thể mà còn có tác dụng đối với việc nâng cao ý thức pháp luật cho mọi công dân.

I- THỰC TRẠNG XÉT XỬ SƠ THẨM THEO TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1. Thẩm quyền của Toà án xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

1.1. Thẩm quyền theo việc

1.1.1. Đối với Toà án cấp huyện

Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực (gọi chung là Toà án cấp huyện) xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ các tội quy định tại Khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự.

1.1.2. Đối với Toà án cấp tỉnh

Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu (gọi chung là Toà án cấp tỉnh) xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử. Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự không có quy định trường hợp nào không thuộc thẩm quyền mà lại lấy lên để xét xử dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, có vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện nhưng ngay từ khi khởi tố vụ án đã do Cơ quan điều tra cấp tỉnh thực hiện nên đến khi kết thúc điều tra, lập cáo trạng đều do cấp tỉnh và mặc nhiên tòa án cấp tỉnh thụ lý xét xử sơ thẩm. Việc Toà án cấp tỉnh thụ lý xét xử không đúng thẩm quyền lại được giải thích rằng, có trường hợp đã truy tố ở cấp huyện mà Toà án cấp tỉnh còn có quyền lấy lên để xét xử huống chi vụ án này do Cơ quan điều tra cấp tỉnh khởi tố kết luận điều tra, Viện kiểm sát cấp tỉnh truy tố ra Toà án cấp tỉnh thì không có lý do gì Toà án cấp tỉnh lại từ chối xét xử. Lý giải như vậy, rõ ràng là không thuyết phục, lấy lên để xét xử khác với thẩm quyền xét xử.

1.1.3. Đối với Toà án quân sự

Đối với những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự nhưng bản án không chỉ có các quyết định về hình sự mà còn có cả các quyết định về dân sự. Nếu phần dân sự trong vụ án hình sự bị Toà án cấp phúc thẩm hoặc Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ để giải quyết lại, nếu đúng theo quy định của pháp luật thì Toà án quân sự không có thẩm quyền xét xử lại phần dân sự trong vụ án hình sự đó nữa mà phải thuộc Toà án nhân dân. Tuy nhiên, nếu giao cho Toà án nhân dân giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự mà vụ án hình sự đó lại do Toà án quân sự đã xét xử thì không phù hợp, việc chuyển giao hồ sơ vụ án cũng rất phức tạp. Để khắc phục tình trạng này, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lại hướng dẫn, nếu phần dân sự trong vụ án hình sự bị huỷ để giải quyết lại thì dù vụ án đó do Toà án nhân dân xét xử hay Toà án quân sự xét xử thì bản án xét xử lại phần dân sự trong vụ án hình sự vẫn là “bản án hình sự”, trong khi đó những người tham gia tố tụng tố tụng được ghi trong bản án không phải là bi cáo, người bị hại, mà là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự dân sự.

1.2. Thẩm quyền theo lãnh thổ

Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Toà án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Toà án có thẩm quyền xét xử là Toà án nơi kết thúc việc điều tra.

Hiện nay có nhiều trường hợp tội phạm được thực hiện ở một nơi hoặc nhiều nơi nhưng không do Cơ quan điều tra địa phương khởi tố, kết thúc điều tra, mà do Cơ quan điều tra Bộ Công an khởi tố, kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra bản cáo trạng và uỷ quyền cho Viện kiểm sát địa phương nơi Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án tham gia phiên toà sơ thẩm để bảo vệ bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đây cũng là vấn đề thực tiễn xét xử gặp nhiều vướng mắc, nhất là đối với Kiểm sát viên tham gia phiên toả; nhiều trường hợp không bảo vệ được cáo trạng vì không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án. Bởi lẽ, theo quy định tại Khoản 3 Điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án. Nếu bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì chỉ có 3 ngày, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án đó, Kiểm sát viên được uỷ quyền tham gia phiên toà không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án, nhiều vụ án, do không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án, nên tại phiên toà Kiểm sát viên lúng túng không chỉ khi xét hỏi mà khi luận tội cũng như tranh luận với người bào chữa gặp rất nhiều khó khăn; có trường hợp Kiểm sát viên phải đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà.

1.3. Giải quyết tranh chấp về tham quyền

Khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền mình thì Toà án chuyển vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử. Việc chuyển vụ án cho Toà án ngoài phạm vi tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính tương đương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu quyết định. Chỉ được chuyển vụ án cho Toà án khác khi vụ án chưa được xét xử. Trường hợp này, việc chuyển vụ án do Chánh án Toà án quyết định.

Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự hoặc Toà án cấp trên thì vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn phải chuyển cho Toà án có thẩm quyền. Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định. Việc chuyển vụ án phải được thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử do Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp quyết định; việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Toà án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, do Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi kết thúc việc điều tra quyết định; việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Toà án nhân dân và Toà án quân sự do Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền, chỉ do Chánh án Toà án quyết định. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử vấn đề tranh chấp về thẩm quyền không chỉ xảy ra giữa các Toà án với nhau mà còn xảy ra giữa Toà án với Viện kiểm sát nhưng Bộ luật tố tụng hình sự không có quy định ai chịu trách nhiệm giải quyết. Ví dụ: Toà án A thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình nên chuyển cho Toà án B có thẩm quyền để xét xử, Toà án B tiếp nhận vụ án cũng thấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình, nhưng Viện kiểm sát cùng cấp với Toà án B không đồng ý, nên không thay đổi Bản cáo trạng truy tố bị cáo ra Toà án B. Nhiều trường hợp do không có sự thống nhất giữa Viện kiểm sát và Toà án nên vụ án phải trả về Toà án không có thẩm quyền xét xử để xét xử vụ án đó không đúng thẩm quyền (biết sai mà không khắc phục được).

2. Giới hạn của việc xét xử

Theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự thì, khi xét xử sơ thẩm Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử.

Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.

3. Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng

Khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luật tố tụng hình sự Việt Nam những người tham gia phiên toà được chia thành hai loại gồm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.

Người tiến hành tố tụng gồm có: Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Toà án và Kiểm sát viên.

3.1. Về người trên hành tố tụng

Trong số những người tiến hành tố tụng thì Chánh án, Phó chánh án Toà án là chức danh quản lý theo Luật tổ chức, đồng thời là người đại diện cơ quan tiến hành tố tụng và là người tiến hành tố tụng. Là người đại diện cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng Bộ luật tố tụng hình sự lại không quy định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của Chánh án, Phó Chánh án Toà án với tư cách là người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng khác với tư cách người tiến hành tố tụng như thế nào, mà chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án (Điều 38 BLTTHS). Nội dung của Điều 38 Bộ luật tố tụng hình sự chủ yếu quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm đối với người tiến hành tố tụng. Do đó trong thực tiễn xét xử khó có thể phân biệt khi nào Chánh án, Phó Chánh án Tòa án thực hiện nhiệm vụ với tư cách là người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng, khi nào với tư cách người tiến hành tố tụng. Ví dụ: Chánh án quyết định tạm giam bị cáo thì việc ra quyết định tạm giam là với tư cách người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng hay với tư cách người tiến hành tố tụng. Việc khiếu nại quyết định này của Chánh án sẽ được giải quyết như thế nào, nếu có căn cứ Chánh án ra quyết định tạm giam đối với bị cáo là không vô tư? Trường hợp Chánh án trực tiếp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo Điều 39 hay cả Điều 38 Bộ luật hình sự, ai là người phân công cho Chánh án xét xử vụ án hình sự?

Đối với Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà – Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, được giao nhiều quyền, trừ quyền ra quyết định thay đổi biện pháp tạm giam. Đây cũng là vấn đề cần xem xét lại, vì việc quy định cho Chánh án, Phó Chánh án mới là người có quyền này chủ yếu là đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng nhưng lại không phù hợp với thực tiễn xét xử, vì Thẩm phán mới là người nghiên cứu hồ sơ vụ án, mới biết được bị cáo có cần phải áp dụng hoặc thay đổi biện pháp tạm giam hay không. Giả thiết, Thẩm phán đề xuất với Chánh án cần phải thay đổi biện pháp tạm giam cho bị cáo nhưng Chánh án không đồng ý thì Thẩm phán có quyền khiếu nại quyết định của Chánh án hay không, trong khi đó Thẩm phán có quyền quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, còn tại phiên toà thì Thẩm phán còn có quyền bắt giam hoặc tha bị cáo.

Thẩm phán không có quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa cũng là vấn đề cần phải xem xét lại, bởi lẽ không có lý do gì lại không cho Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, không ai hiểu nội dung vụ án, cũng như các mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng bằng Thẩm phán, vì thông qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán có thể biết người bào chữa có thuộc trường hợp bắt buộc hay không bắt buộc, có thuộc trường hợp phải thay đổi hay không. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc gây phiền hà cho Luật sư, vì không phảì lúc nào Chánh án, Phó Chánh án cũng có mặt tại trụ sở để xem xét việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận bào chữa cho Luật sư.

Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán chủ toạ phiên toà là người điều khiển phiên toà, nhưng do tư duy cũ và thói quen của Thẩm phán từ thế hệ này qua thế hệ khác quá tập trung vào việc “khuất phục” bị cáo nên không quan tâm đến việc điều khiển phiên toà nhất là điều khiển việc tranh luận giữa người bào chữa (Luật sư) với Kiểm sát viên tham gia phiên toà. Đây là khâu yếu nhất của Thẩm phán chủ toạ phiên toà hiện nay.

Bộ luật tố tụng hình sự cũng chưa có quy định tại phiên toà những người tham gia tố tụng được hỏi lẫn nhau, trong khi đó ở giai đoạn điều tra, lại có quy định khi đối chất Điều tra viên có thể cho những người đối chất được hỏi lẫn nhau (Điều 138 BLTTHS).

Đối với Hội thẩm, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật thì Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán chủ toạ phiên toà, mỗi quyết định của Hội đồng xét xử được biểu quyết theo đa số. Tuy nhiên, trên thực tế thì rất ít Hội thẩm thực hiện đúng trách nhiệm và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho mình, Chế định Hội thẩm tham gia xét xử còn nặng tính hình thức, Hội thẩm còn ỷ lại quá nhiều vào Thẩm phán, không có tư duy độc lập; các quyết định của Hội đồng xét xử chủ yếu do Thẩm phán chủ toạ phiên toà đưa ra và Hội thẩm chỉ đồng ý; rất ít vụ án bản án của Hội đồng xét xử được thông qua tại phòng nghị án. Công tác lựa chọn, bầu hoặc cử Hội thẩm cũng chưa được quan tâm, đặc biệt việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho Hội thẩm chưa đáp ứng yêu cầu.

Thư ký Toà án được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm sau: Phổ biến nội quy phiên toà; báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên toà; ghi biên bản phiên toà; tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh án Toà án (Điều 41 BLTTHS). Thực tế cho thấy, việc ghi biên bản phiên toà của Thư ký Toà án hiện nay là vấn đề yếu nhất; Thư ký Toà án ở các Toà án hiện nay đều là sinh viên đại học luật mới ra trường, không được đào tạo nghề (Thư ký); việc tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho họ cũng chưa đáp ứng được yêu cầu; hầu hết biên bản phiên toà hiện nay không phản ảnh đầy đủ và trung thực diễn biến phiên toà, do Thư ký Toà án không ghi chép kịp.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà hình sự sơ thẩm để thực hiện quyền công tố. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên tham gia phiên toà đã được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên là người công bố bản cáo trạng, bổ sung cáo trạng hoặc rút cáo trạng tại phiên toà; tham gia cùng với Hội đồng xét xử xét hỏi tại phiên toà, trình bày lời luận tội, tranh luận với người bào chữa hoặc bị cáo; đưa ra chứng cứ hoặc yêu cầu trong đó có quyền yêu cầu thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án. Thực trạng hiện nay cho thấy có nhiều trường hợp Kiểm sát viên ít tham gia xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác để chứng minh tội phạm, mà ỷ lại cho chủ toạ phiên toà; khi trình bày lời luận tội tại phiên toà không căn cứ vào kết quả xét hỏi mà lại căn cứ vào Bản cáo trạng, mặc dù kết quả xét hỏi tại phiên toà đã có nhiều nội dung không đúng với bản cáo trạng; đặc biệt sau khi người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo và đề nghị Kiểm sát viên tranh luận về từng vấn đề mà người bào chữa (Luật sư) nêu ra, nhưng một số Kiểm sát viên không tranh luận lại, thậm chí chỉ nói một câu “vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố”, cá biệt có Kiểm sát viên từ chối tham gia phiên toả mà không có lý do chính đáng.

3.2. Về người tham gia tố tụng

Trong số những người tham gia tố tụng thì bị cáo là nhân vật trung tâm. Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự cũng nhằm tới việc xác định bị cáo có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì phạm tội gì, mức hình phạt bao nhiêu, trách nhiệm bồi thường thiệt hại thế nào… Là bị cáo, họ chưa bị coi là người có tội, họ chỉ là người bị cáo buộc về một tội phạm nào đó theo Bộ luật hình sự, nên họ phải được đối xử như đối với một người bình thường khác. Cũng chính vì vậy mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định quyền của bị cáo rất đầy đủ và cụ thể để họ tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ cho mình trước lời cáo buộc của Viện kiểm sát tại phiên toà. Tuy nhiên, trực trạng hiện nay, do nhận thức chưa đúng nên trước phiên toà bị cáo bị đối xử như người đã có tội; Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và ngay cả những người tham dự phiên toà cũng coi bị cáo là người đã có tội. Thay đổi quan niệm này, phải có một thời gian và phải có nhiều biện pháp, không chỉ đối với quy định của pháp luật mà còn phải nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân.

Nói chung, tại phiên toà các quyền của bị cáo được Toà án thực hiện tương đối đầy đủ như: Được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Toà án; các quyết định khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; được tham gia phiên toà; được giải thích về quyền và nhiệm vụ; được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; được đưa ra tài liệu, đồ vật và những yêu cầu; được tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa; được trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà; được nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án; được kháng cáo bản án và quyết định của Toà án; được khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, nơi có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, như trên đã nêu, do thái độ của chủ toạ phiên toà; của Kiểm sát viên nên một số quyền của bị cáo bị vi phạm, mà sự vi phạm lại từ phía những người tiến hành tố tụng.

Để bảo vệ các quyền của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, theo Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành thì bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

Người bào chữa là người được bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ mời hay được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn Luật sư phân công Văn phòng luật sư cử hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho bị cáo, nhằm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý. Theo quy định tại Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bào chữa có thể là: Luật sư; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân.

Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp luật theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức nhằm góp phần bảo vệ công lý.

Thực trạng đội ngũ Luật sư hiện nay trên phạm vi toàn quốc đã có hơn 6.250 người và hơn 3.000 thực tập làm nghề Luật sư. Theo đánh giá của Liên đoàn Luật sư thì vị thế của Luật sư đã được nâng cao rõ rệt; các cơ quan tiến hành tố tụng tôn trọng, tạo thuận lợi hơn cho Luật sư khi hành nghề; các Đoàn Luật sư được địa phương quan tâm hơn, hỗ trợ nhiều hơn về kinh phí, cơ sở vật chất. Tuy nhiên, số lượng Luật sư phân bổ chưa đồng đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, mới có khoảng 20% vụ án hình sự có Luật sư tham gia; Luật sư chuyên sâu về các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại còn ít. Trình độ, năng lực của Luật sư cũng còn hạn chế, là người bào chữa nhưng không bào chữa mà còn buộc tội bị cáo mà mình nhận bào chữa hoặc không biết hành vi của bị cáo là hành vi không cấu thành tội phạm nên chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo…; có Luật sư còn vi phạm đạo đức nghề nghiệp cá biệt có Luật sư lợi dụng hành nghề để lừa đảo chiếm đoạt tài sản lợi dụng diễn đàn để tuyên truyền chống nhà nước ảnh hưởng uy tín của Luật sư.

Ngoài Luật sư, người bào chữa có thể là người đại diện hợp pháp của người bị cáo. Người đại diện hợp pháp là bố mẹ để, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật đối với bị can bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần.

Trong số những người tham gia tố tụng trên, có người bị hại là người mà thực tiễn xét xử còn nhiều vướng mắc, một phần do Bộ luật tố tụng hình sự quy định không rõ ràng, phần còn lại là do nhận thức của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng không thống nhất.

Theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bị hại chỉ có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường cũng như về hình phạt đối với bi cáo, nhưng theo quy định tại Đoạn 1 Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm, nên từ trước đến nay cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng như người tham gia tố tụng đều hiểu rằng, người bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, kể cả tội danh, hình phạt và các quyết định khác. Cách hiểu này rõ ràng là không đúng nhưng lại được các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng chấp nhận và quyết định theo cách hiểu này. Ví dụ: Do có kháng cáo của người bị hại nên Toà án cấp phúc thẩm đã chuyển tội danh từ tội cố ý gây thương tích sang tội giết người (là tội danh nặng hơn).

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự thì, trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà. Vậy, người bị hại trình bày lời buộc tội trước hay sau khi Kiểm sát viên trình bày lời buộc tội ? Nếu người bị hại vắng mặt thì Toà án có xét xử vắng mặt họ được không? Theo quy định tại Khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự thì, trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền của người bị hại, nhưng ai là người đại diện hợp pháp cho người bị hại thì Bộ luật tố tụng hình sự không quy định. Trường hợp người bị hại không chết nhưng họ là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì có người đại diện cho họ không, Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định.

Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự quy định nếu người bị hại từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội từ chối khai báo theo Điều 308 của Bộ luật hình sự, nhưng trên thực tế chưa có trường hợp nào người bị hại bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, mặc dù có nhiều trường hợp họ không cộng tác với cơ quan tiến hành tố tụng như: Không đi giám định tỷ lệ thương tật, không có mặt theo giấy triệu tập mà sự có mặt của họ là bắt buộc, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cho Toà án nói riêng.

4. Một số vấn đề về hình thức và thủ tục tại phiên toà

4.1. Về hình thức phiên toà sơ thẩm

Do lịch sử để lại, có sự kế thừa mô hình tố tụng của Toà án Pháp nên phòng xử án, vị trí, chỗ ngồi của Hội đồng xét xử, của Kiểm sát viên, Thư ký phiên toà, “Vành móng ngựa”, chỗ ngồi của người bào chữa (Luật sư) và những người tham gia tố tụng khác cho đến nay vẫn không có gì thay đổi. Khi đất nước mở cửa, phát triển kinh tế thị trường, đã nhiều lần có ý kiến đề nghị Luật sư phải được ngồi ngang hàng với Kiểm sát viên; tại Hội nghị tổng kết 2 năm ngày thành lập Liên đoàn Luật sư Việt Nam, trả lời phỏng vấn báo giới, Chủ tịch liên đoàn Luật sư lại đề cập đến chỗ ngồi của Luật sư tại phiên toà sao cho bình đẳng với Kiểm sát viên.

4.2. Giai đoạn chuẩn bị phiên toà

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát chỉ có quyền rút quyết định truy tố và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án, nhưng không ít trường hợp, hồ sơ vụ án vẫn đang do Toà án thụ lý, Toà án không có quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhưng bằng một công văn Viện kiểm sát xin rút lại hồ sơ vụ án với nhiều lý do khác nhau. Hầu hết các Toà án khi nhận được Công văn của Viện kiểm sát đều đáp ứng yêu cầu. Nhiều trường hợp sau khi Toà án chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát, thời hạn chuẩn bị xét xử đã hết nhưng Viện kiểm sát không trả lại hồ sơ vụ án cho Toà án và Toà án cũng không yêu cầu Viện kiểm sát trả hồ sơ vụ án, coi như vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát chứ không phải của Toà án; trong khi đó thì Toà án vẫn thụ lý vụ án.

Việc trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung cũng còn nhiều vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự quy định chưa đầy đủ như: Trường hợp chỉ cần truy tố lại chứ không cần điều tra lại bất cứ một tình tiết nào của vụ án, nhưng trong quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung vẫn phải ghi “để điều tra bổ sung”. Việc điều tra bổ sung đối với phần dân sự trong vụ án hình sự chưa được Bộ luật  tố tụng hình sự quy định cụ thể, mặc dù Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự”. Giải quyết không chỉ bao gồm xét xử mà bao gồm cả giai đoạn điều tra, truy tố. Khi Toà án trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung về vấn đề dân sự, một số Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra không nhận hồ sơ vụ án mà làm công văn trả ngay cho Toà án với lý do: Toà án có thẩm quyền điều tra về vấn đề dân sự.

Theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng hình sự thì, đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Tòa án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa. Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp phiên toà không mở, thời hạn tạm giam đã hết, thế là Toà án ra một cái lệnh vo thời hạn: “Tạm giam bị cáo cho đến khi kết thúc phiên tòa”, có trường hợp 6 tháng hoặc một năm sau phiên toà mới được mở. Đây là vi phạm không phải ít, nhưng không được phát hiện, uốn nắn.

Đến ngày mở phiên toà theo quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vì những lý do khác nhau nên phải hoãn phiên toà, trong đó có những lý do không đúng với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; việc thông báo hoãn phiên toà cũng không thống nhất, có Toà án thông báo bằng văn bản gửi cho cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, nhưng có Toà án chỉ viết ở trên bảng đặt trước trụ sở với nội dung: “Phiên toà xét xử bị cáo A hoãn” không có một lời giải thích.

Hiện nay, có nhiều trường hợp sau khi điều tra bổ sung, Viện kiểm sát chuyển hồ sơ vụ án lại cho Toà án xét xử sơ thẩm nhưng chỉ bằng một công văn, không thay đổi bản cáo trạng (vẫn bản cáo trạng cũ). Việc làm này là không đúng pháp luật vì kết quả điều tra bổ sung cần phải được thể hiện trong bản cáo trạng.

4.3. Về thủ tục tại phiên toà

Kể từ khi khai mạc phiên toà cho đến khi kết thúc phiên toà có thể chia ra các giai đoạn: Phần mở đầu, phần xét hỏi, phần tranh luận và tuyên án.

II- PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ :

Hoàn thiện thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, là một yêu cầu tất yếu và cũng là vấn đề nằm trong chiến lược cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49/NQ-TW đề ra. Vì vậy, phương hướng hoàn thiện phải gắn liền với mục tiêu và phương hướng cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49NQ/TW của Bộ Chính trị.

1. Xác định mô hình tố tụng hình sự:

Trước hết, cần xác định mô hình tố tụng hình sự ở nước ta theo mô hình như thế nào, đây là vấn đề cốt lõi của việc hoàn thiện thủ tục tố tụng hình sự nói chung và thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.

Hiện nay, trên sách báo cũng như các báo cáo về cải cách tư pháp đều xác định mô hình (kiểu) tố tụng hình sự của nước ta hiện nay là “tố tụng thẩm vấn” và đi liền với mô hình tố tụng thẩm vấn là “luật thành văn”. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, mô hình tố tụng của nước ta hiện nay là một hình tố tụng pha trộn. Theo TS. Nguyễn Duy Hưng thì “Mô hình tố tụng pha trộn giữa thẩm vấn  và tranh tụng của chúng ta rất tiến bộ vừa kết hợp được ưu điểm của hai mô hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng ra đời trước đó là nhà nước kiểm soát được tội phạm nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nghi can. Nếu chính thức ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi thì sẽ càng làm tăng thêm tính ưu việt của nó”(). Đồng tình với ý kiến trên, đa số cho rằng trên thực tế Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta đã có một số quy định mang tính tranh tụng, chứ không chỉ thuần tuý là thẩm vấn. Trên thế giới hiện nay cũng không còn mô hình tố tụng của quốc gia nào chỉ thuần tuý là “tranh tụng” hay “thẩm vấn” mà đã có sự pha trộn. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào mỗi nước mà tính tranh tụng hay tính thẩm vấn nhiều hay ít. Còn ở nước ta căn cứ vào các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì còn nặng về tính “thẩm vấn” mặc dù tính “tranh tụng” đã được ghi nhận nhưng chưa đậm nét.

Khẳng định lại mô hình tố tụng “pha trộn” mà nước ta đang áp dụng, tức là chúng ta phải trả lời câu hỏi: Vì sao cho đến nay mô hình tranh tụng pha trộn lại không phát huy được tác dụng như chúng ta mong đợi ? Đó là vì các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng vẫn mang nặng tư duy cũ và thiên về tố tụng thẩm vấn nhiều hơn; Bộ luật tố tụng hình sự cũng chưa có nhiều quy định bảo đảm cho tính tranh tụng nhiều hơn, nhất là các quy định về phiên toà, mặc dù Nghị quyết số 08/NQ-TW và Công văn số 13 của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp đã có nhiều nội dung mang tính tranh tụng nhiều hơn.

2. Xây dựng pháp luật

Luật Tổ chức Toà án, Luật Tổ chức Công tố và Luật Tổ chức Cơ quan điều tra cần cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về hệ thống Toà án, hệ thống cơ quan Công tố và Công tố viên, hệ thống Cơ quan điều tra và Điều tra viên.

Bộ luật tố tụng hình sự, cần sửa đổi, bổ sung theo hướng:

– Ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong Chương quy định về các nguyên tắc cơ bản, việc ghi nhận nguyên tắc tranh tụng không đồng nghĩa Việt Nam sẽ đi theo mô hành tố tụng tranh tụng mà chỉ tăng cường thêm tính tranh tụng trong mô hình pha trộn, phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp là nâng cao tính tranh tụng tại phiên tòa.

– Không quy định người đứng đầu Toà án, Viện công tố, Cơ quan điều tra là “Người tiến hành tố tụng”, vì những người này đại diện cho cơ quan tiến hành tố tụng. Thẩm phán có quyền cấp giấy chứng nhận người bào chữa và có quyền áp dụng, thay đổi tất cả các biện pháp ngăn chặn, kể cả biện pháp tạm giam.

– Chỉ quy định Luật sư mới là người bào chữa, sửa đổi, bổ sung một số quyền và nghĩa vụ của Luật sư để tạo thuận lợi cho Luật sư hoạt động; bổ sung một số quyền và nghĩa vụ đối với Luật sư trong trường hợp bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng (bào chữa bắt buộc).

– Tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết bằng vụ án dân sự nếu các bên có yêu cầu.

– Bỏ thầm quyền xét xử theo lãnh thổ, Cơ quan công tố có quyền truy tố một công dân ra bất cứ Toà án nào trên lãnh thổ Việt Nam để xét xử sơ thẩm theo thẩm quyền xét xử (thẩm quyền theo việc), nếu có tranh chấp về thẩm quyền theo việc thì Viện công tố giải quyết chứ không phải Chánh án Toà án.

– Về giới hạn xét xử cần quy định: Viện công tố chỉ truy tố người phạm tội và hành vi mà người đó thực hiện, còn bị cáo có phạm tội hay không và phạm tội gì thì để cho Toà án quyết định.

– Thay đổi hình thức phiên toà sơ thẩm theo hướng: Bỏ vành móng ngựa thay vào đó là ghế bị cáo; bàn của Hội đồng xét xử cao nhất, Luật sư và Công tố viên ngồi ngang nhau nhưng thấp hơn Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án ngồi ở phía dưới Hội đồng xét xử; mọi diễn biến phiên toà, kể cả diễn biến khi nghị án phải được ghi âm hoặc ghi hình.

– Khi xét xử Công tố viên trình bày bản cáo trạng và đặt các câu hỏi đối với bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; trong quá trình xét hỏi, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác cũng có quyền hỏi; bị cáo có thể đặt câu hỏi đối với những người tham gia tố tụng khác; Thẩm phán chủ toạ phiên toà chỉ điều khiển việc xét hỏi, chỉ đặt câu hỏi đối với Công tố viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khi thật cần thiết, chấp nhận hoặc bác bỏ những câu hỏi hoặc yêu cầu người bị hỏi không phải trả lời vì câu hỏi và câu trả lời có thể làm lộ bí mật nhà nước, hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến thuần phong mỹ tục.

– Đối với vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại bắt buộc phải có mặt tại phiên toà và trình bày lời buộc tội trước khi Công tố viên trình bày lời luận tội, nếu họ vắng mặt không có lý do chính đáng thì vụ án được đình chỉ, vì người bị hại từ bỏ quyền khởi tố, mà theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự là bắt buộc.

Cùng với việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự theo hướng trên, thì cần có Luật về chứng cứ. Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định trình tự, thủ tục thu thập, cung cấp chứng cứ, còn các vấn đề khác về chứng cứ như: Khái niệm, nội dung, nguồn chứng cứ, giá trị của chứng cứ, đánh giá chứng cứ… sẽ quy định trong Luật về chứng cứ.

3. Nâng cao trình độ năng lực cho Thẩm phán, Công tố viên, Điều tra viên và Luật sư

Mọi sự thay đổi, cải cách bảo đảm tăng cường tính tranh tụng tại phiên toà, suy cho đến cùng vấn đề quyết định vẫn là con người. Nếu trình độ, năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán, Công tố viên, Điều tra viên và Luật sư như hiện nay thì mục tiêu cải cách sẽ không đạt được. Vì vậy, việc tiêu chuẩn hoá đội ngũ này cần phải tiến hành đồng bộ với quá trình cải cách tư pháp theo một lộ trình hợp lý.

– Đối với đội ngũ Thẩm phán, hiện nay đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Thẩm phán, thay vì trước đây gọi là Thẩm phán cấp huyện, Thẩm phán cấp tỉnh, Thẩm phán tối cao thì nay gọi là Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán tối cao; việc điều động Thẩm phán hiện nay cũng thuận lợi hơn so với trước. Tuy nhiên, về tư duy, nhận thức, trình độ, năng lực kinh nghiệm vẫn như cũ; việc đào tạo, bồi dưỡng cho Thẩm phán cũng chưa có gì thay đổi; cần nghiên cứu bỏ hình thức xét tuyển bằng hình thức thi tuyển, không chỉ thi tuyển vào ngạch Thẩm phán mà thi tuyển từ Thẩm phán sơ cấp lên Thẩm phán trung cấp, từ trung cấp lên Thẩm phán tối cao.

– Đối với Công tố viên (Kiểm sát viên hiện nay), ngoài kiến thức về kiểm sát điều tra thì phải có kiến thức điều tra và chỉ huy điều tra; năng lực, trình độ kinh nghiệm xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Cũng như đối với Thẩm phán cần thi tuyển.

– Đối với Điều tra viên là người trực tiếp thực hiện việc điều tra tội phạm, ngoài kiến thức pháp luật thì còn cần phải giỏi về nghiệp vụ điều tra, khám phá tội phạm, hiểu và sử dụng thành thạo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ. Việc bổ nhiệm Điều tra viên cũng phải áp dụng hình thức thi tuyển như đối với Thẩm phán và Công tố viên.

Đối với Luật sư cần tăng về số lượng, đồng thời quan tâm đến chất lượng, chế độ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, thi tuyển phải bảo đảm các tiêu chuẩn về năng lực và đạo đức nghề nghiệp của Luật sư; chế độ miễn cho những người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và các đối tượng khác cũng phải có tiêu chí cụ thể chứ không phải ai cũng được miễn như quy định hiện nay; cần có quy định bảo vệ Luật sư khi hành nghề, đồng thời xử lý nghiêm minh đối với Luật sư vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp – kinh nghiệm CHLB Đức” do Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Quỹ Hợp tác quốc tế về pháp luật CHLB Đức phối hợp tổ chức ngày 9-10/6/2011 tại Hà Nội,

2  Trích phát biểu tại buổi toạ đàm do Báo pháp luật thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 21-5-2011.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Mẫu Đơn Phản Tố Trong Tố Tụng trên website Hanoisoundstuff.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!